(E) Mail thường lại, người không thấy lại... Hoa dương tàn, đã trãi rêu xanh... .Rêu xanh mấy lớp chung quanh... .Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ...

Thursday, May 24, 2007

Có phải em mang trên áo bay -Hoàng Huy Mạnh


Co phai em mang tren ao bay
Hai phan gio thoi, mot phan ma^y
Hay la em go’i ma^y trong ao
Roi tho*? cho la`n ao trang bay?



Toi khong biet co phai thi si Nguyen Sa viet nhung cau tho nay de ta canh cac thieu nu trong ta ao dai vao mot buoi chieu tan hoc hay khong, nhung toi nho mai hai cau ‘co phai em mang tren ao bay / hai phan gio thoi mot phan may ‘ moi lan nhin thay cac ta ao tung bay trong gio. Ngoai bai Tuong Tu, thi si Nguyen Sa con mot bai nua ma hoc sinh chung toi thoi do ai cung thuoc nam long,



Nang Saigon anh di ma chot mat
Boi vi em mac ao lua Ha dong
Anh van yeu mau ao ay vo cung
Tho cua anh van nguyen mau lua trang




Bai nay toi chac la thi si cung ta canh ong dang nhin theo mot thieu nu trong ta ao dai nhung lai vao mot buoi trua nang gat. Nhin da’ng em di, nhin ao em mac ma long thi si mat ruoi thi du biet ta ao dai cua cac co gai Viet no co mot hap luc, mot suc quyen ru biet chung nao! Ben canh Nguyen Sa, thi si Nguyen Tat Nhien cung da lam chung toi ngay ngat khi o^ng viet lai canh? o^ng di theo hay tuong tuong o^ng dang di theo tan’ tinh? nguoi yeu cua ong duoi con mua qua bai tho Ma Soeur



Dua em ve duoi mua
Noi nang chi cung thua
Phat pho* do*`i suong gio
Ho^`n minh gan nhau chua?


………………………….

Dua em ve duoi mua
Ao dai sa^`u hai vat
Khi cha^’m bu`n lu*a thu*a..




Ngoai Nguyen Sa va Nguyen Tat Nhien con biet bao nhieu thi si nua da tuc canh sinh tinh khi nhin cac thieu nu tha thuot trong ta ao dai, da de lai cho the he chung toi thoi do nhung van tho trac tuyet. Chi tiec toi khong biet lam tho, neu biet thi chac toi cung da noi tieng trong lang van nghe tu lau.


Qua My, cac van tho loai nay khong con thay xuat hien nhieu nua. Nguoi Viet thi thua thot, cac thieu nu Viet thi khong con dip de mac ao dai nhu xua. Chang le lam tho ca tung cac bo vay’ da^`m, cai ao Jacket thi coi ky qua, dau co’ co^’ gang thi toi nghi cac nha` tho* cung se khong co du? rung dong de^? de^.t nen nhung giai dieu nhe nhang thi vi. Thi si Han Mac Tu neu song o day cung voi toi chac cung khong the nao co duoc van tho:



Mo* khach duong xa, khach duong xa
Ao em trang qua, nhin khong ra
O day suong khoi mo nhan anh
Ai biet tinh ai co da^.m da`?


Chiec ao dai o My da gan nhu bi di vao quen lang, thinh thoang chi con thay cac em sinh vien mac trong cac buoi trinh dien thoi trang vao dip tet.Trinh dien xong, cac em lai mac ngay vao nguoi chiec quan Jean thuong le. Neu la thi si toi cung dau co kip de lam tho. Thinh thoang khi ranh roi toi cung tim sach bao trong nuoc hoac len net tim tho de doc, de xem cac thieu nu, cac nu sinh bay gio co con trong ta ao dai co con duoc cac nha tho hien dai ca tung nhu thoi chung toi may muoi nam ve truoc hay khong? Cho den nay toi van chua tim doc duoc bai tho nao ung y ve ta ao trang. Di nhien la tho*`i dai. moi, con nguoi moi, van chuong cung phai moi nhung sao toi van mai luu luyen nhung hinh bong cu, nhung van tho co^? die^n? xa xua.

Ban than men,

Sang nay ranh roi, chung toi thue taxi cho di mot vong xem pho xa. Nhin tam bieu ngu treo tren duong toi moi biet hom nay la ngay Quoc Te Phu Nu, ngay ma phu nu duoc de cao, duoc xung tung. Nha nuoc thi nhac nho dan chung khong quen cong duc cua Hai Ba Trung qua tam bich chuong toi vua doc duoc.Con` nguoi dan binh thuong thi toi nghi cac ong chong di nhien se ca tung vo hien, cac chang trai co le se mua hoa tang nguoi yeu.( toi thay rat nhieu cac em be cam hoa di ban dao) Con toi thi lai mien man nghi ve nhung bai tho ca tung tuoi hoc tro may muoi nam truoc,( co vo ngoi ben canh nen toi khong dam suy nghi la(ng nha(ng). Taxi cho chung toi moi vua di ngang ngoi truong Nu Trung Hoc noi tieng ngay xua, da di qua nhung ngoi truong moi ngay nay. Truoc cong truong hay tren duong pho, toi van thay thieu vang nhung ta ao, nhung dung nhan da tao nen nhung van tho ma toi yeu thich. Nhin ngam chung quanh toi chi thay da so^’ cac co^ khi lai xe thi dau doi mu, khuon mat duoc che lap boi mot mieng vai bit ngang truoc mat. Toi hoi tham nguoi tai xe^’ va duoc cho biet mieng vai che mat do goi la khau trang. Co’ co^ co`n mang them mot bao tay dai va mang bi’ ta^’t bit. kin’ ban chan. Thinh thoang chung toi moi thay co’ co^ con` de^? da^`u tra^`n, ma(.t tra^`n, tay tra^`n tren pho. Do la luc moi thay duoc toc gio thoi bay, moi thay duoc dai tay em may thuo mat xanh xao hoac toc em tung soi nho rot xuong doi lam song len denh. Hanh phuc vo cung.


Toi moi tro ve nen khong biet khau trang da du nhap vao Viet nam tu da^u? cac co da bat dau deo khau trang che kin khuon mat chi chua doi mat tu luc nao va voi muc dich gi? De tranh bui vi khong khi o nhiem hay de anh na(‘ng khong lam den lan da? Hay la de tranh cho cac chang khoi deo duoi tan’ tinh? loi thoi? Du voi muc dich gi chang nua, toi nghi day la su thiet thoi cho rat nhieu nguoi. Thi si se thieu vang nguon cam hung de sang tac tho ca tung net dep cua nguoi con gai. Nhu bai tho cua Huy Can. Em dep ban tay, ngon thon thon. Em duyen doi ma, na(‘ng hoe tron, Em lua gio biec vao trong toc. tho^?i lai phong` anh ca nui non. Du khach ngoai quoc se mat co hoi duoc chiem nguong net dep diu dang duyen dang cua nguoi phu nu Vietnam. Ho se thac mac, ua, day khong phai la mot xu Hoi Giao ma sao co nhiey nguoi bit mat vay ca? Neu ho cung so na(‘ng, so bui ba^.m va cu`ng ru nhau di mua mot khau trang thi khong biet bo mat thanh pho Saigon hoa le^. se ra sao?. Rieng toi, thu*a ban.,trai tim toi von hay da^.p lung tung lai mat di co hoi them mot lan rung dong.

Ngay xua tren cac to*` nha^.t bao, trong trang tim ban bon phuong hay co cau ’ thieu nu diu hien, tren hai muoi tuoi. Yeu mau tim, thich mau trang, sac dep thi tuy nguoi doi dien’ . Ngay nay voi tam khau trang, sac dep ai cung nhu nhau. Chi khac nhau o chat lieu va hinh dang cua tam khau trang, co loai may bang vai cotton, co loai may bang vai polyester, co loai vai? tro*n, co loai vai hoa. Co loai chi che mui~ va mieng, co loai che luon xuong ta^.n co^?. Toi chac la tuy theo gia ca va so thich cua moi nguoi. Hom nay nhan ngay Phu Nu, ngoai viec nho on cong duc Hai Ba, nho on cong duc cua nhung nguoi me Vietnam tao tan, than co lan loi. Toi tham cau mong nhung tam khau trang mot ngay nao do se khong con tren que huong, de toi duoc nhin thay ro khuon mat cua cac be tho, thay ro nu cuoi cua cac em hoc sinh sau gio tan hoc, thay ro phan son ma cac co da diem trang cho doi them tuoi dep.

Ban than men,

Thieu di tam khau trang thi nuoc da cua ban co le se~ ho*i na^u them mot chut nhung biet dau vi vay ma lai cang them quyen ru~, the^m ma(.n ma` duyen dang. Toi khong biet lam tho nhung lai hay lay tho nguoi khac, xu dung lung tung, dem ta(.ng bua bai. Hom nay, cung lai nhan ngay Phu Nu, tren duong tu Hoa Hung ra pho Saigon, bo^n? cu~ soan lai xin tang ban may cau tho cung cua thi si Nguyen Sa.

Saigon di rat cham buoi chieu
Canh tay ta ao sat vong eo
Co nghe doi mat vong quanh ao’
Nam ngon tho* buon du*’ng ngo theo.


…………………………………………

Saigon mai goi nhau bang cu*ng
Vanh moi nghieng canh’ xuong pha^n va^n
Lu*ng troi khong co ba^`y chim en’
Thanh pho di ve^` cung da xuan.


Toi noi nang khong biet giu loi, hay bi vo la vi toi phat ngon bua bai. Tam khau trang doi voi ban la mot quen thuoc, than thuong nhung voi toi no da phu kin ca mot dung nhan ma toi uoc ao duoc chiem nguong. Ban than men, nhung loi tam su cua toi neu lam ban buon long, toi hua se dai ban mot ly nuoc o quan sinh to truoc cong truong de thay loi ta lo^i~.

Uong nuoc dua hay nuoc mat que huong?

Hoang Huy Manh
More Pictures, Bigger Pictures Click at this Link

Monday, May 14, 2007

Hòa Hưng Chào Buổi Sáng - Hòang Huy Mạnh (#2)


Chúng tôi thức dậy lúc năm giờ sáng, leo lên sân thượng để đón bình minh. Những ngày đầu trong cuộc hành trình chúgng tôi ở trọ nhà một người thân trong khu Hoà Hưng thay vì ở khách sạn, chúng tôi chọn nơi đây vì Hòa Hưng là nơi tôi đã song những năm tháng dài trươc ngày rời khỏi nước. Ba tôi là Hiệu trưởng một trường Trung Tiểu Học duy nhất của vùng này, và nhà chung tôi ở ngay trong khuôn viên của ngôi trường, thành thử đa số cư dân lâu đời ở đây đề biết ba tôi, hoặc là học trò cũ của ba tôi. Hồi đó trong xóm đều gọi chúng tôi là con Ông Giáo hay là con thầy Bích.
Ngày đầu trở về đươc sống trong không gian của một khu phố thân thuộc là một niềm hạnh phúc. Chúng tôi có cơ hội được nhìn thấy tận mắt sinh họat bình thường của người dân.

Mặt trời chưa lên nhưng bên dưới đã ồn ào tiếng động, có người chuẩn bị chất đồ lên một chiếc xe ba gác, có người gồng gánh đã lên sẵn trên vai, người thì ra sân trước tập thể dục, và đằng xa cuối con hẽm, nhưng chiếc ghé nhựa thấp màu đỏ đã được bày ra để sẫn sành bất đầu cho một ly cà phê buổi sáng.

Văng vẳng đâu đó, vọng lại một tiếng rao hàng rất thân quen, dù tôi không hiểu được họ bán món gị, vì cách thức rao, giọng rao và ngôn ngữ hình như có khác hơn xưa…
Mặt trời đã ửng hồng, nhưng đã bị các căn nhà cao chung quanh che lấp.

Không xa lắm, những mái nhà lợp tôn quen thuộc chen lẫn vơi những bức tường gạch xanh, hồng dưới anh sáng của buổi sớm mai đã tạo nên một hình ảnh rất lạ lùng, một đối chọi về cao thấp, môt đối chọi về màu sắc mà chỉ có thể thấy được từ trên cao trong một căn hẽm nhỏ nơi chúng tôi đang đứng.

Không biết từ lúc nào, tôi đã yêu thich những con hẽm, mặc dầu ngày xưa tại nơi đây, tôi đã từng bị đón đường giựt bút máy khi đi học về, bị du đãng chận đường hỏi thăm sức khỏe vì cái tội để tóc dài. Ngòai phố là những kẻ xa lạ, nhưng vùa bước vào hẽm là những ai đó thân quen, rộn rã tiêng chào và lời hỏi han thân mật.

Cuối hẽm lớn rẻ vào một hẽm nhỏ, cuối hẽm nhỏ tưởng đã cùng đường, nhưng lại có lối rẻ vào một con hẽm khác nhỏ hơn trông rất là bí hiễm, và rất dễ … lạc lối về…

Từ lúc nào không biết, một cô bé hàng xóm đang cầm chổi quét trước sân, quét xong sân nhà cô, cô lại chịu khó quẻt luôn sân nhà bên cạnh, À a, ở Mỹ không có cái vụ này, nhà ai nấy lo, làm dùm đôi khi còn bị kiện cáo lôi thôi nửa là đằng khác…Tiếng rao hàng đã rộn rã hơn, các em nhỏ đã chuẩn bị để bố mẹ chở đi đến trường, sạp bán bún bò đã có người ghé vào ăn trước khi đi làm… Cả một không gian, cả một đời sống của thành phố Saigon, hình như được thu nhỏ ở đây, có lẽ tôi yêu mến những con hẽm là vì thế.

Tôi yêu những con hẽm, tôi yêu sự cần cù khó nhọc của người dân Việt, tôi yêu sự hiền hòa chất phác của anh bạn lái xe ôm, của em bé bán vé số, của bà cụ bán thuốc lá đầu ngõ (ngày xưa tôi hay mua nợ thuốc lá nên tôi rất có cảm tình vơi những ai bán thuốc lá). Như một đứa bé lần đầu tiên được bố mẹ dẫn đi du ngoạn, mọi hình ảnh trước mắt đồi với chúng tôi đều mới, đều lạ... Những hình ảnh này nếu trước kia tôi có may mắn đươc thấy thì chắc chắn ngày nay cũng đã bị xòa nhòa trong ký ức của tôi sau hơn ba mươi năm xa cách…

Hôm nay trở về, ký ức khởi động, và với tâm thức của một người yêu thich nhiếp ảnh. tôi tò mò quan sát và ghi lại qua ông kính của tôi…

Có người hồi hương để tìm lại hương vị cuộc chơi, thức ăn ngày cũ trong các hộp đêm hay các vũ trường..
Có người hồi hương để tìm ý trung nhân, họ sẽ theo dõi sát các bóng hồng…
Có người hồi hương chỉ để thăm gia đình, họ sẽ quanh quẩn trong căn nhà cũ bên cạnh những người thân…
Có người hồi hương để hy vọng chụp được những tấm ảnh để đời, họ sẽ tìm đến các danh lam thắng cảnh…

Riêng chúng tôi, chúng tôi trở về, không với một mục đích gì cao siêu, mà chỉ để sống và hít thở không khí quê hương, dù chỉ vài tuần ngắn ngủi…được ăn xòai tượng xanh chấm nước mắm đường, được ăn những trái cốc đã gọt võ tách ra từng múi, cắm vào một cây nhỏ có muối ớt đỏ hồng…

Trong vài tuần ngắn ngủi đó, những hình ảnh chung quanh đã đánh động vào tiêm thức, vì vậy tôi nảy ra ý định viết về những ý nghĩ riêng tư rời rạc của mình để chia xẽ với vợ tôi, với các em tôi, với các bằng hữu….

Nhưng gì tôi đã kễ, có thể là những chuyện xưa như trái đất mà bạn đã không thèm để ý đến….Những ánh tôi đã chụp là những hình ảnh rất tầm thường, nếu gửi đi dự thi, thì cầm phần chắc là được ném vào trong sọt rác, nhưng đối với chúng tôi, nó đã chuyên chở cả tấm lòng của tôi lúc bấy giờ...

Nhiều khi những gì tôi đã viết sẽ làm cho bạn cãm động, và muốn hồi hương thêm một chuyến nữa…

Nhưng nhiều khi cũng có thể làm cho bạn bực mình….biết rồi, khổ lắm nói mãi…Cái tên Hòang Huy Mạnh này thật dở hơi, biết là nóng, biết là ồn ào sao còn về làm gì? Đã chẳng lo hưởng thụ thì chớ, lại còn viết và chụp những chuyện lăng nhăng vớ vẫn… Cái building cao lớn đẹp thế kia mà không chịu chụp lại đi chụp nhừng mái tôn rĩ sét?…

Thua bạn, nếu bạn trách tôi thì tôi dành chịu, chứ không biết giải thich làm sao?
Tôi mới đến chưa ở trên quê hương trọn một ngày, mong bạn kiên nhẫn cùng tôi đi cho hết cuộc hàmh trình.

Chủ nhà đã thức giấc, anh ngạc nhiên tai sao chúng tôi lại có thể dậy sớm, mà không chịu ngủ thêm sau một chuyến bay dài nhọc mết…An him lặng theo dõi chúng tôi chụp hình, rôi rũ chúng tôi ra quán cà phê Sông Mê gần nhà để thưởng thúc ly cà phê đầu tiên trong một buổi sáng đầu tiên trên quê hươn.

Quán rất dẽ thương, tên quán cũng dễ thương mặc dù tôi không hiểu lắm ý nghĩ của Sông Mê, mê muội như một gìòng sông chăng? Hay như tôi?, một người già nhưng chưa bào giờ tỉnh táo? Người hầu bàn đã đem đến cho chúng tôi một tấm thức đơn

Uống nước dừa hay nước mắt quê hương?

Hòang Huy Mạnh

Hình Lớn Hơn, Hình Nhiều Hơn Xin Click ngay link này

Sunday, May 13, 2007

35 Năm Một Chuyện Tình - Nguyễn Duy An


Nguyễn Duy An là người Á châu đầu tiên đảm nhiệm chức vụ Senior Vice President của National Geographic. Năm 2006, ông là tác giả được trao tặng giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ. Nhân dịp kỷ niệm 30 tháng Tư năm nay, ông góp thêm một loạt bài viết đặc biệt. Và sau đây là bài thứ ba, một chuyện tình có thật và có hậu, để tưởng nhớ cuộc chiến tranh Việt Nam.

*

Tôi uể oải trở về văn phòng lúc gần 1 giờ chiều, sau một cuộc họp kéo dài lâu hơn dự tính. Vừa đặt máy "laptop" lên bàn, chị thư ký đã theo vào:

- Duy ăn trưa chưa? Sao hôm nay họp lâu vậy?

- Chưa, mấy người kia rủ đi ăn nhưng mệt quá! Vả lại sáng nay bà xã đã chuẩn bị...

Tôi chưa nói hết câu, Christine đã chặn ngang:

- "Lão James" ghé qua lúc 11 giờ rưỡi, ngồi chờ cả tiếng đồng hồ để mời "xếp" đi ăn trưa, nhưng "lão già" ấy cút rồi. Duy ăn đi rồi tôi kể cho nghe chuyện lạ.

Tôi rất ngạc nhiên khi nghe Christine gọi James là "lão già" vì từ mấy năm nay chị ấy vẫn "o bế" James rất kỹ mỗi khi ông ấy có việc về văn phòng trung ương của National Geographic ở Hoa Thịnh Đốn. Đã có tiếng đồn trong sở là Christine "mê" James, nhưng ông ấy vẫn lững lờ theo kiểu "tình vờ".

Với tôi, Christine và James đều là những nhân viên rất tốt và lớn hơn tôi cả chục tuổi. Christine là thư ký riêng của tôi từ hơn 9 năm nay, và lúc nào cũng xem tôi như "một đứa em trai dại khờ" bất kể là trong sở hay ngoài đường. James là trưởng phòng kỹ thuật của National Geographic ở Evanston, Illinois nhưng lúc nào cũng "thưa gởi" phân minh trong công việc, và thân tình như anh em bạn bè ngoài giờ làm việc.

*

Ngày mới về làm giám đốc phụ trách khoa học và kỹ thuật cho National Geographic, khi tìm thuê thư ký, tôi đặt điều kiện với văn phòng phụ trách nhân viên (Human Resources) rằng tôi cần một người có bằng về văn chương và "quen biết" công việc của National Geographic để giúp tôi soạn thảo và sửa chữa văn bản vì tôi là người ngoại quốc. Lúc bấy giờ Christine đang làm bên thư viện của tòa báo, đã từng giúp biên soạn những bài viết về Thuyền Nhân Việt Nam vào đầu thập niên 1980, gọi điện thoại xin gặp tôi chứ không nộp đơn theo đúng thủ tục.

Mấy ngày sau, đúng hẹn, vừa vào văn phòng, chị đã mở lời ngay: "Có lẽ Duy đã tìm hiểu về tôi qua văn phòng nhân viên trước rồi, phải không? Tôi đi thẳng vào vấn đề nhé: Tôi đã làm ở đây hơn 20 năm rồi, chồng tôi mới mất, hai con đã lớn, tôi có thể về hưu sớm nhưng thấy Duy xuất thân là một thuyền nhân tỵ nạn, và tôi tin chắc chắn mình dư khả năng và điều kiện làm thư ký riêng cho Duy nên tôi muốn giúp Duy thành công ở đây. Được không?" Lẽ ra tôi là người phỏng vấn Christine, nhưng ngược lại, chị ấy đã "phỏng vấn" tôi hơn một tiếng đồng hồ rồi kết luận: "Tôi sẽ nộp đơn đúng theo thủ tục, hy vọng Duy không từ chối chứ?" Và mấy tuần sau, Christine đã xin chuyển về làm thư ký riêng cho tôi.

Mấy tháng sau, tôi sắp xếp đi thăm một số văn phòng của National Geographic ở nhiều tiểu bang khác nhau tại Hoa Kỳ. Lúc đến phi trường Chicago, ở quầy nhận hành lý, tôi đã sững sờ khi trông thấy một người Mỹ tuổi trung niên tươi cười, hớn hở, một tay vẫy chào, một tay cầm tấm bảng lớn viết tên tôi rất chuẩn: Chữ Nguyễn có dấu mũ và dấu ngã đàng hoàng!

Chiều hôm đó, trước khi rời văn phòng, James mở lời:

- Tôi sẽ đưa "xếp" tới khách sạn, sau đó về nhà dùng cơm tối với cha mẹ tôi vì ông bà cụ rất mong muốn được gặp "ông xếp Việt Nam" của tôi... Chúng ta có thể làm bạn ngoài giờ làm việc được không "xếp"?

- Ông cứ gọi tôi là Duy được rồi. Chúng ta là bạn bè mà.

- Phải, chúng ta là bạn sau khi ra khỏi văn phòng! Còn tại đây, ông vẫn là "xếp lớn" đến từ trung ương. Xin mời "xếp", ta đi.

- Ai chỉ cho ông viết họ của tôi có dấu vậy?

James vẫn nằng nặc:

- Bí mật mà "xếp"! Lúc về nhà gặp ông bà thân sinh, "xếp" sẽ biết!

- Hay chúng mình ăn tối ở khách sạn trước...

- Không được đâu "xếp" ơi. Ông bà cụ đã chuẩn bị hết rồi, "xếp" không ăn thì họ không để tôi yên đâu!

Tôi không còn cách nào từ chối nên đành theo James về nhà ăn tối với cha mẹ ông ta. Suốt bữa ăn, ông bà đã hỏi tôi rất nhiều về Việt Nam, về trại tỵ nạn, về sự thành công của người Việt trên đất Mỹ... Sau cùng, ông bà và James dẫn tôi lên lầu. James nghẹn ngào:

- Đây là căn phòng của người em song sinh của tôi. Nó đã hy sinh bên Việt Nam vào mùa thu năm 1972. Cha mẹ tôi vẫn giữ nguyên như ngày nào.

Tôi sững sờ khi nhìn thấy tấm hình của "James" vào lúc chừng 20 tuổi trong bộ quân phục Thuỷ Quân Lục Chiến đứng bên cạnh một cô gái người Việt mặc áo dài, tay cầm nón lá, chụp bên hàng dừa cạnh một con kênh nhỏ, có lẽ ở Miền Tây Việt Nam. Tấm hình được đóng khung lớn, trịnh trọng đặt trên một chiếc bàn nhỏ như kiểu bàn thờ tổ tiên tại phòng khách của nhiều gia đình bên Việt Nam. Trên bàn có một bình hoa chưng mấy bông hồng màu trắng rất dễ thương. Tôi thẫn thờ, bùi ngùi xuc động không nói nên lời. James lên tiếng:

- Đây là tấm hình cuối cùng của em tôi. Em tôi rất thích hoa hồng trắng nên lúc nào mẹ tôi cũng tìm mua về chưng trên bàn thờ của "vợ chồng" nó. Em tôi tên John, giống tên Mỹ của ông đó, nhưng ở nhà vẫn gọi nó là Jack. Bên cạnh là vị hôn thê người Việt của em tôi, "cô ấy" cùng họ Nguyễn với ông, tên là Nguyễn Thị Minh-Thu. Đó là lý do tại sao tôi viết đúng tên họ của ông theo cách đánh dấu của người Việt. Hồi đó, đáng lẽ tôi phải lên đường sang Việt Nam nhưng Jack đã tình nguyện đi thay, và em tôi chẳng bao giờ trở về nữa! Nó đã gặp và yêu người em gái của viên sĩ quan Việt Nam cùng làm việc chung ở một tỉnh nhỏ nào đó trên quê hương ông. Tình yêu của họ gặp nhiều ngang trái vì gia đình và họ hàng cô ta phản đối! Em tôi đã kiên trì theo đuổi, học hỏi ngôn ngữ và phong tục tập quán người Việt suốt 3 năm trời, và cũng nhờ ông anh rể tương lai giúp đỡ thuyết phục cha mẹ và anh em bà con, tình yêu của họ mới được mọi người chấp nhận. Em tôi đã mãn hạn vào mùa hè năm đó nhưng tình nguyện ở lại làm việc trong khi tiến hành thủ tục giấy tờ và chuẩn bị làm lễ đính hôn để cùng Minh-Thu hồi hương... Nhưng rồi cả Jack và ông anh rể đều hy sinh trong một cuộc tập kích vào mùa thu năm 1972. Gia đình tôi cũng không biết số phận Minh-Thu ra sao từ ngày ấy!
James và ông bà thân sinh còn nói với tôi rất nhiều về Jack và Minh-Thu, về những tấm hình và những lá thư từ vùng lửa khói, về cái chết của Jack, và nhất là những cố gắng của gia đình để tìm kiếm "người con dâu chưa về nhà chồng" mà lúc nào họ cũng nhớ thương. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận được ý nghĩa đích thực của câu nói "tình yêu không phân biệt ngôn ngữ, chủng tộc..."

Càng ngày tôi càng quý mến James nhiều hơn khi biết được mỗi khi có dịp ghé về vùng Hoa Thịnh Đốn, ông ấy đều viếng thăm đài tưởng niệm Binh Sĩ Hoa Kỳ Trong Cuộc Chiến Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial), và lần nào ông cũng đặt một bông hồng mầu trắng dưới bảng khắc tên em mình. Thêm vào đó, James cũng đã từng tâm sự với tôi về việc dọn về ở chung để phụng dưỡng cha mẹ sau khi họ về hưu, cả chuyện gia đình đổ vỡ và việc phụ cấp cho đứa con cho tới lúc nó đủ 18 tuổi nữa. Đó cũng là lý do ông ta "làm ngơ" với tình cảm của Christine vì James không muốn "chuyện tình mới" bị trục trặc vì vấn đề "child support" từ cuộc hôn nhân trước...

*

Ăn trưa xong, tôi định ra gặp Christine coi lịch trình công việc buổi chiều để tiện bề sắp xếp thời gian vì tôi đang tính dành vài tiếng đồng hồ tâm sự với James. Nhưng tôi chưa kịp lên tiếng, chị ấy đã nhanh nhẩu:

- Chiều nay không có gì quan trọng. Báo cáo Tam Cá Nguyệt I-2007 tôi đã viết xong rồi đây, lúc nào rảnh Duy xem lại nhé. Mà này, "Lão James" sắp tái giá... với một cô người Á Đông xinh xắn, ở đâu trên West Chester, Pennsylvania. Đúng là "Lão Già mắc dịch!" Làm phách bao nhiêu năm, tưởng lão đã...

Tôi giật mình khi nghe Christine nhắc về cô vợ sắp cưới của James nhưng đoán biết chị ta đang đau lòng và khó chịu nên tôi chỉ với tay nhận bản báo cáo rồi dịu giọng:

- Cám ơn Christine. Chiều nay chúng ta khá rảnh rỗi đấy. Nếu chị cần làm gì hay đi đâu, cứ tự nhiên nhé. Tôi ngồi nghiên cứu xấp hồ sơ này cũng hết mấy tiếng đồng hồ rồi.

- Thế nào "Lão James" cũng dẫn cô ả trở lại để khoe với "xếp"!

Rồi với giọng thê lương, chị ấy bộc lộ tâm sự :

- Ôi! Chán quá! Hay Duy cho phép tôi nghỉ chiều nay đi "shopping" cho khuây khỏa nhé? Tôi không muốn nhìn thấy bản mặt "câng câng" (quite impudent) của "Lão James" bên cạnh một người đàn bà khác!

- OK.



Trở vào văn phòng, nhưng thay vì xem lại bản báo cáo, tôi lại ngồi thẫn thờ suy nghĩ, thắc mắc tự hỏi không biết vợ sắp cưới của James có phải là "cô ấy" hay không.

Hơn nửa năm về trước, khi tôi triệu tập một cuộc họp đại diện các văn phòng kỹ thuật của National Geographic ở Hoa Thịnh Đốn, James đã năn nỉ xin tôi cho phép về Thủ Đô trước vài hôm vì một lý do riêng.

James là một trong những trưởng phòng xuất sắc nhất của sở nên tôi cũng chẳng tiếc gì mà không duyệt chi thêm vài đêm khách sạn và tiền ăn; thêm vào đó, tôi vẫn có thể nhờ James giúp thêm một số công tác chuẩn bị cho ngày đại hội. Với Christine, có lẽ chị ấy sẽ vui nhiều vì có dịp cho hai người gặp nhau nhiều hơn...

Tuy nhiên, ngay sau khi nhận phòng ở khách sạn, James đã gọi điện thoại cho tôi:

- Chiều nay "xếp" có rảnh không?

- Để xem. Ông định xin phép dẫn Christine bát phố, phải không?

- Không đời nào. Hôm nay là ngày giỗ của em tôi! Đó là lý do tôi xin "xếp" cho về Thủ Đô trước ngày họp. Tôi chỉ muốn dẫn "xếp" đến giới thiệu với em tôi rằng ông đã dạy cho tôi biết về phong tục tập quán của người Việt Nam lúc nào cũng tưởng nhớ ngày chết của người thân. "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư" phải không "xếp"?

- Xin lỗi, tôi vô ý quá! Bây giờ ông đến văn phòng rồi cùng mình đi.

- "Xếp" đón tôi được không? Tôi ngại đụng đầu Christine lắm! Nếu chị ấy đòi theo,"xếp" sẽ khó xử nữa.

- OK.

Sau khi đậu xe ở góc đường 21 và Constitution, chúng tôi tản bộ theo dòng người hướng về phía bờ tường cẩm thạch khắc tên 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ đã hy sinh thời chiến tranh Việt Nam. Hai tay James nâng niu một bông hồng mầu trắng, mắt hướng về một cõi xa xăm, thẫn thờ, lặng lẽ cùng tôi tiến gần tới chỗ có khắc tên người em song sinh tên Jack đã bỏ mình bên Việt Nam. Tôi đã từng theo James đến thăm nơi này vài lần nhưng chưa bao giờ đúng vào ngày giỗ như hôm nay.

Khi tới gần bờ tường có khắc tên của Jack, hai chúng tôi sững sờ khi nhìn thấy một phụ nữ Á Đông "mặc áo nâu sòng" đang nhắm mắt đứng yên như chìm vào cõi hư không vô định, một vài giọt lệ trào ra từ khóe mắt, long lanh nhỏ giọt trên hai gò má dưới ánh nắng vàng mùa thu.

Người phụ nữ ấy cũng cầm trên tay một bông hồng mầu trắng, hai tay chậm rãi dò theo từng nét khắc trên bảng tên của Jack, miệng lẩm bẩm như đang nức nở nghẹn ngào...

James và tôi lặng lẽ vào đứng bên cạnh người phụ nữ. Tôi nghe thoang thoảng trong gió một giọng nói tiếng Việt thì thầm: "Em nhớ anh nhiều lắm... Mãi mãi em vẫn yêu anh..."

Tôi giật thót người. James cũng quay phắt qua tôi, hai mắt nhớn nhác nhìn tôi như dò hỏi xem "cô ấy" nói gì. Tôi chưa kịp lên tiếng, nàng đã mở to mắt trợn trừng nhìn James một lúc thật lâu rồi oà lên khóc lớn: "John! Có phải anh đây không?" Tôi chưa kịp hoàn hồn thì chẳng hiểu sao nàng đã quay phắt lại, vừa khóc vừa chạy.

James thả vội bông hồng trắng dưới bảng tên của em mình, vừa rượt theo vừa hét lớn: "Minh-Thu. Minh-Thu..."

Phải mấy phút sau tôi mới nhớ lại câu chuyện gia đình James đã kể cho tôi nghe hôm đầu tiên tới ăn cơm tối với họ.

Tôi cố moi óc nhớ lại tấm hình phóng lớn treo trong phòng ngủ của Jack nhưng không thể nào mường tượng được một chút gì liên hệ giữa cô gái trong hình và người phụ nữ tôi vừa gặp.

Tôi nhắm hướng đuổi theo hai người. Tôi bắt gặp nàng đang ngồi khóc bên bức tượng đồng "Ba Chiến Sĩ" -"The Three Servicemen" (also referred to as "Three Fighting Men" or "Three Infantrymen") is not a war Memorial but a Memorial to those who served in the war, both living and dead- là đài tưởng niệm những chiến sĩ đã từng phục vụ trong cuộc chiến, người chết cũng như còn sống. James đang sững sờ đứng bên cạnh, hai mắt cũng chan hòa nước mắt.

Tôi không còn nhớ hai người, kẻ đứng người ngồi, khóc tới bao lâu, nhưng trước khi hoàng hôn xuống, chị Minh-Thu đã đồng ý cùng đi ăn tối với tôi và James.

Qua câu chuyện, tôi hiểu được lý do chị Minh-Thu nhìn lầm James với người em song sinh ngày trước chỉ nhờ cặp mắt chứ vóc dáng bề ngoài thì chị ấy không tài nào nhận ra. Phần James, ông ta cũng không giải thích được tại sao đã buột miệng gọi "Minh-Thu" khi nàng bỏ chạy. Phải chăng là hương hồn của người em đã khuất thôi thúc James phải chạy theo Minh-Thu như một nhân duyên tiền định?

Trong nức nở nghẹn ngào và nước mắt, chị Minh-Thu đã kể lại cho chúng tôi nghe về quãng đời gian nan của chị từ mùa thu năm đó. Chị đã quyết định để tang người chồng chưa cưới 3 năm cho trọn đạo rồi xin quy y cửa Phật. Tuy nhiên, tang chồng chưa mãn vận nước đã đổi thay và gia đình ly tán... Minh-Thu theo gia đình người chị ruột về lập nghiệp tại một vùng "Kinh Tế Mới" gần biên giới Cao-Miên sau khi người anh rể đã khăn gói lên đường đi học tập cải tạo.

Mấy năm sau, một lần nữa, nàng lại theo chị và các cháu chạy loạn vì chiến tranh Việt-Miên. Thôi thì trăm cay ngàn đắng dồn dập đổ xuống suốt bao nhiêu năm trường nhưng Minh-Thu vẫn một lòng "tu tại gia" thờ chồng.

Hơn 15 năm trước, gia đình chị nàng được qua Mỹ theo diện H.O. Mấy năm sau, nhờ sự giúp đỡ của anh chị, Minh-Thu và đứa cháu còn kẹt lại vì "quá tuổi" đã xin xỏ, chạy chọt giấy tờ để dọn về Sàigòn. Ở đó Minh-Thu an phận sống đời buôn thúng bán bưng trong các ngõ hẻm để sống qua ngày với cháu. Nhưng rồi bốn năm sau người cháu rồi cũng ra đi đoàn tụ gia đình. Minh-Thu không hy vọng gì nhiều vào giấy tờ bảo lãnh của chị mình nên dự tính sẽ thật sự "phát nguyện quy y". Lâu nay chị cứ lưỡng lự không dám vào tu ở chùa vì thỉnh thoảng John vẫn còn hiện về trong giấc mơ và nàng không bao giờ quên được hình bóng người chồng chưa cưới đã vĩnh viễn ra đi!

Hơn một năm trước, Minh-Thu được qua Mỹ đoàn tụ với gia đình người chị ở tiểu bang Pennsylvania. Ngay khi vừa đến Mỹ, ước mơ duy nhất của nàng là tìm dịp về Thủ Đô viếng "mộ chồng" một lần cho thỏa lòng thương nhớ.

Sau bao nhiêu ngày tháng chuẩn bị, Minh-Thu đã sắp xếp tới viếng "mộ chồng", dù "mộ" chỉ là một tấm bảng ghi tên trên bức tường của đài tưởng niệm Binh Sĩ Hoa Kỳ Trong Cuộc Chiến Việt Nam, với một bông hồng mầu trắng, vào đúng ngày giỗ thứ 34 của chàng.

Minh-Thu đã ngừng kể từ lâu nhưng nước mắt vẫn dầm dề. Tôi nhìn lên thấy James cũng đang nghẹn ngào xúc động. Tôi kể cho chị Minh-Thu biết về gia đình James... Chị ấy đã bật khóc nức nở khi biết rằng từ mấy chục năm nay cha mẹ của John đã nhận nàng làm dâu và tấm hình cuối cùng của hai người cũng như tất cả thư từ, kỷ vật còn lại của John vẫn được giữ nguyên trong phòng như ngày nào John vẫn còn ở với cha mẹ. James vội vã gọi điện thoại về báo tin cho cha mẹ. Hai ông bà năn nỉ nhờ tôi thuyết phục Minh-Thu dọn qua ở với ông bà, nhưng nàng chỉ hứa sẽ tới thăm khi hoàn cảnh cho phép và nàng cũng rất muốn được nhìn xem nơi John đã được sinh ra và lớn lên, nhất là nhìn lại những tấm hình ngày xưa mà nàng đã đánh mất trong thời di tản. James và Minh-Thu trao đổi điện thoại, địa chỉ...

Tôi giật mình trở về với hiện tại vì một giọng nói tiếng Việt rất ngọng, ngượng nghịu và ồm ồm:

- Chào "ông xếp". Tôi muốn giới thiệu "nhà tôi sắp cưới".

Tôi nhìn lên thấy James đang "tươi rói" đứng chắn ngang cửa văn phòng và vài tiếng cười khúc khích mé ngoài. Tôi dí dỏm đáp lại bằng tiếng Việt:

- Chưa cưới thì vẫn là "nhà người ta" chứ không phải "nhà tôi" đâu James à! Vào đây, vào đây!

Chị Minh-Thu tay trong tay với ông James e thẹn bước vào văn phòng. Chị ấy đã hoàn toàn lột xác. Hình ảnh một người phụ nữ gầy còm ốm yếu, đôi mắt u uẩn đau buồn và lúc nào cũng sẵn sàng nhỏ lệ không còn nữa. Khuôn mặt của chị Minh-Thu bây giờ là biểu tượng của sự tươi trẻ, hồn nhiên và hạnh phúc mặc dầu chị đã trên 50 tuổi. James nâng tay Minh-Thu hớn hở tuyên bố bằng tiếng Anh:

- Chúng tôi mới đính hôn cuối tuần vừa rồi "xếp" ạ. Tôi đang hạnh phúc lắm!

Tôi đáp lại bằng tiếng Việt vì cố tình nói cho chị Minh-Thu nghe:

- Chúc mừng! Chúc mừng anh chị!

- Nói tiếng Anh đi "xếp"! Tôi chỉ mới học nói được vài câu tiếng Việt nhưng nghe thì không hiểu gì cả. Tuy nhiên, với "cô giáo" dễ thương này, tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa.

Chị Minh-Thu chỉ tủm tỉm cười trong hạnh phúc chứ không nói tiếng nào. Tôi chưa lên tiếng thì James đã xổ một tràng dài, không kịp thở:

- "Xếp" phải đi đám cưới tụi tôi nhé. Cha mẹ tôi nói sẽ gọi cho xếp đó. Nhưng chuyện đó tính sau, tôi cần "xếp" giúp tôi việc này ngay vì Minh-Thu không chịu giải thích cho tôi. À quên, "xếp" có biết không? Tôi đã yêu Minh-Thu ngay sau lần gặp đầu tiên với "xếp" đó và tôi đã ngỏ lời ngay khi đón Minh-Thu qua Evanston thăm cha mẹ tôi; nhưng "cô ấy" cứ làm khó dễ hoài. Cha mẹ tôi qua Pennsylvania thăm gia đình Minh-Thu và phải năn nỉ mãi cô ấy mới đồng ý. Tuy nhiên, "cô ấy" lúc gọi tôi là James, lúc Jack, lúc John... Tôi không quan tâm, miễn chúng tôi yêu nhau là được rồi. Nhưng sau hôm "đám hỏi", ông anh rể của Minh-Thu đề nghị rằng chỉ cần gọi là "J" được rồi, vì cả 3 cái tên đều bắt đầu bằng "J"... Nhưng vì tiếng Việt không có chữ "J" nên ông ấy bảo tôi sửa lại thành "Dê", nghĩa là "goat" đó. Tại sao vậy "xếp"? Rồi ông ấy lại bảo theo phong tục Việt Nam, "Dê" tượng trưng cho số 35, rất phù hợp quãng đường 35 năm từ khi Minh-Thu và em tôi dự tính làm đám hỏi cho tới ngày tôi và nàng đính hôn. Ý Trời! Tôi mù tịt, chẳng hiểu gì cả!

James chưa dứt lời mà chị Minh-Thu đã nháy nhó ra hiệu cho tôi đừng giải thích. Tôi nghĩ chắc chị ấy sợ "người yêu" hiểu lầm về chuyện "dê cụ" lắt léo trong tiếng Việt. Tôi đánh trống lảng:

- Từ từ chứ ông bạn. Ông hỏi nhiều quá tôi biết làm sao mà trả lời?

- "Xếp" thông cảm nhé. Tôi đang yêu mà!

Tôi cũng cảm nhận được hạnh phúc của hai người nên đề nghị:

- Chúng mình kiếm chỗ ngồi uống nước rồi nói chuyện nhiều hơn.

- OK "xếp". Em thích chứ, Minh-Thu?

Chị Minh-Thu nhỏ nhẹ:

- Duy đưa chị và "ông ấy" đến Eden được không? Chị nghe nói chứ chưa bao giờ tới.

Hai người vẫn tay trong tay theo tôi vào thang máy xuống nhà lấy xe. Trông họ thật hạnh phúc và đẹp đôi. Tôi nhớ lại một câu nói đã nghe ở đâu đó: "Khi đang yêu và được yêu, người con gái nào cũng trở nên xinh đẹp lạ thường!" Lần đầu tiên trong đời tôi thực sự cảm nhận được phép mầu của tình yêu nam nữ.

Tôi xin phép hai người để viết lại những dòng này như một lời chúc mừng cho tình yêu của họ. James chỉ xin tôi đừng tiết lộ "tên họ" (last name) của gia đình và "chị ấy" yêu cầu tôi đổi tên của chị thành Minh-Thu để người ta không biết chị là ai...

Sau 35 năm, một chuyện tình bắt đầu trong gian khổ và nước mắt từ Cái Sắn, Việt Nam đang bắt đầu "nẩy chồi đơm bông" tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, và trong tương lai rất gần sẽ "kết trái" ở vùng Evanston, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ...

NGUYỄN DUY-AN

Thursday, May 3, 2007

"Thầy có nhớ con không...?" Tác Giả ?

Trích từ phim "To Sir With Love"


"Thầy có nhớ con không...?"

Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác
người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường..

"Thầy còn nhớ con không...?"

Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng
hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè
rụng xuống trên vai người thầy học cũ

"Không... xin lỗi.. ông lầm...
Tôi chưa từng dạy học
Xin thối lại ông tiền thuốc... cám ơn!"


Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn
Thầy học cũ mười năm không lầm được
Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc
giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.
Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư
người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,
chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,
biết yêu anh em - đất nước - xóm giềng.

Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,
Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.
Bên hè phố im lìm,
vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.
Câu phủ nhận phải vì câu áo rách
trước đứa học trò quần áo bảnh bao?

Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,
những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.
Mười năm nữa đứa nào trong số đó,
sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?

Nhặt đươc từ
http://www.ninh-hoa.com/ptan-NoiBuonMuaThu.htm
(Website của Phạm Tín An Ninh)

Về Lại Phố Xưa - Hòang Huy Mạnh (UNDHNMQH2)

Thành phố mới, tên đường mới nên thành phố trở nên thành phố lạ đối với chúng tôi.
Rời phi trường sau khi trãi qua những giây phút ngột ngạt, một phần vì chưa quen với không khí nóng nực, một phần vì phải đối diên với các quan chức nhà nước, với những khuôn mặt lạnh, nghiêm trọng giống như đang truy tầm các tay khủng bố ác ôn, môt phần vì những thủ tục “đầu tiên” được hành xữ rất nghiêm chỉnh. ...Tôi chóng mặt.... Trước cổng phi trường có một đám đông người đứng chung quanh hàng rào sắt, tôi không hiểu họ đã đến từ lúc nào, đến để đón thân nhân? hay vì một mục đich nào khác? Đám đông đó đã không hề suy giãm khi chiếc taxi chở chúng tôi lăn bánh.

Tiếng động đầu tiên gây cho chúng tôi sự chú ý là các tiếng còi xe, người tài xế bấm còi luôn tay, xe bên cạnh bấm, xe trước mặt bấm, xe sau lưng bấm. Tất cả hòa cùng tiếng động cơ của mọi thứ xe cộ trên đường phố tạo thành một bản hòa tấu, lại đươc trình diễn bởi một ban nhạc không có nhạc trưởng, mạnh ai nấy chơi tùy theo sở thích của mình. Về sau, theo dõi và nghiên cứu kỷ lưỡng tôi mới khám phá bấm còi là một nghệ thuật mà bất cứ người lái xe nào ở Việt nam đều phải biết và học hỏi để tránh đươc tai nạn và được an toàn trên xa lộ!
Chúng tôi rất may mắn vì người lái xe chở chúng tôi là một người đứng tuổi, dân Saigon trước 1975. Như một tour guide chuyên nghiệp, ông đã chỉ cho chúng tôi biết những tên đường cũ, những địa danh cũ của khu vực này trước đây. Tất cả đều khác hẳn với những gì tôi có trong ký ức của mình, tôi không cảm nhận được mình đang đi trên con đường năm xưa. Ba mươi hai năm quả là quá dài để cho mọi chuyện phải đổi thay.
Kìa là Bộ Tổng Tham Mưu, đằng đó là cổng trại Phi Long, bộ Tư Lênh Không Quân, bệnh viện Vì Dân của Bà Thiệu…..Dĩ vãng của một mùa hè đỏ lửa, của thángTư, của ly loạn lại thoáng hiện (Ký ức của tôi về Saigon, về miền Nam nước Việt chỉ bắt đầu từ thủa ấu thơ đến tháng tư là chấm dứt)
Xe đã rẽ sang đường Cách Mạng Tháng Tám, Lê Văn Duyệt cũ, người tài xế cho biết, tôi không nhận ra nổi đây con đường dẫn đên nơi tôi ở ngày xưa. Các cửa tiêm san sát vào nhau, đủ mọi thứ hàng quán tràn ngập trên vĩa hè, cao hơn trên các cột đèn là các bó dây điên chằng chịt, giăng ngang dọc rất ấn tượng. Những dây điện này cũng là chủ đề cho một số các bức ảnh của tôi. Tôi thắc mắc không biêt nếu cần sửa chửa thì thợ điên sẽ làm cách nào để tìm ra sợi dây bị hỏng mà sửa hay thay thế.
Trên đương phố, xe đạp, xe gắn máy, xe hơi, xe vận tãi, vẫn chen vai, vẫn sát cánh với nhau, và tranh nhau tìm một khõang trống trước mặt hầu mau chóng đến được nơi muốn đến. Nhiều đoạn đường, xe gắn máy cả 2 bên như dán sát vào khung xe của chúng tôi, nhưng kỳ diệu thay, tai nạn vẫn không bao giờ xảy ra…
Tôi đã lái xe trên khắp các đường phố lớn của Hoa Kỳ của các thành phố Âu Châu như Berlin, Hamburg, trên các xa lộ không giới hạn tốc lực ở Oslo, Amsterdam, Brussles, Paris. Tôi cũng đã ở trên các con đường lót đá rất hẹp, vời những bùng binh chia ra đên mười ngã rẽ…Nhưng có lẽ tôi sẽ không bao giờ dám lái xe ở thành phố này, thành phố có một “style” lái xe rất đặc biệt, ở một đất nước rất đặc biệt…
Người tài xế vẫn tiếp tục câu chuyện, tay vẫn tiêp tục bấm còi… Tôi cãm thấy hơi khát nước và có môt chút buồn ngủ...
Uống nước dừa hay nước mắt quê hương?
More Pictures-Bigger Pictures-Click @ This Link

Monday, April 30, 2007

La Vie Des Autres - Lê Tất Đạt

XEM PHIM

The Lives of Others/ Das Leben der Anderen

Lê Tất Đạt

Giải Oscar lần thứ 79 dành cho phim ngoại quốc xuất sắc nhất năm 2006 được trao cho phim The Lives of Others (Das Leben der Anderen) của Đức do đạo diễn Florian Henckel von Donnersmarck thực hiện. Nó đánh bại bốn phim ngoại quốc kia là: After the Wedding, Đan Mạch, Indigènes, Algeria, Pan's Labyrinth, Mexico và Water, Canada. Trong năm phim đó thi hai phim: Pan’s Labyrinth và Water đã được chiếu ở Winnipeg và tôi đều xem. Cả hai đều xuất sắc, sư thể này càng làm tôi nôn nóng chờ ngày ra mắt La vie des autres.


Ra khỏi rạp một buổi chiều có nắng xuân ấm áp, nhìn bầu trời trong vắt, nhìn giòng người và xe cộ luân lưu tôi cảm thấy rủ bớt phần nào bứt rứt mà nhân vật chính đang làm vướng bận tâm tư tôi. Lâu lắm rồi tôi mới đi xem ciné ban ngày, mà lại đi một mình. Mai hiền thê sau khi đọc review tỏ ý không thích nội dung vì sợ có những cảnh bạo động. Một điều khá ngạc nhiên, dù bối cảnh là nước Đông Đức năm 1984 và câu chuyện được xây dựng chung quanh hoạt động tình báo của sở mật vụ Stasi (State Security) nhưng không có những cảnh máu đổ thịt rơi. Cũng nên biêt rằng Sở Mật Vụ Stasi có 90,000 nhân viên và 175,000 cảm tình viên dể theo dõi, báo cáo và tố giác Đời Sống Của Những Người Khác gồm 16.7 triệu người dân Đông Đức. Trong lúc đó Cơ Quan Mật Vụ Gestapo của Hitler's chỉ có 30,000 cảnh sát bí mật thôi.


Nhân vật chính là Đại uý Gerd Wiesler (Ulrich Muehe), hẳn nhiên đạt đến chức vụ này trong sở tình báo nhà nước Cộng sản Đông Đức anh phải là một đảng viên nồng cốt, được huấn luyện và hun đúc để trở thành một tấm khiên và thanh đao bảo vệ quyền lợi cũng như sự tồn vong của đảng và nhà nước đúng tinh thần phù hiệu mà họ mang trên cánh tay. Anh là một kẻ lý tưởng, tin theo tín điều. Một nhân vật như anh không dễ gì giao động hoặc mủi lòng trước những cảnh thương tâm. Ngoài là một thẩm vấn viên , anh còn dạy phương pháp thẩm vấn và khảo cung tại đại học tình báo Đông Đức. Người Cộng sản, nhất là những người ở trong guồng máy thống trị đều có một lập trường kiên định, họ được gieo rắc những giáo điều và hận thù giai cấp ăn sâu trong tâm khảm như một loại kim cương bất hoại, khó gì có thể bứng ra được.


Nhân vật thứ hai là một kịch tác gia hàng đầu ở Đông ĐứcGeorg Dreyman (Sebastian Koch), người duy nhất được nhà nước xem là kẻ không phá hoại chế độ (non-subversive), một chế độ đầy rẫy những khủng bố, áp bức, hoài nghi và hoang tưởng. Anh là con người xã hội, anh viết bài đả kích chủ nghĩa tư bản bóc lột tầng lớp lao động nhưng đồng thời cũng đả phá thẳng tay chế độ kiểm duyệt, lời nói hai lưỡi và những tin tức sai lạc của nhà nước nên anh được lòng thành phần nghệ sĩ phản động đang bị nhà nước theo giỏi cũng như được độc giả Tây phương ủng hộ.


Nhân vật thứ ba là Christa-Maria Sieland (Martina Gedeck), một nghệ sĩ sân khấu và là người tình của Georg Dreyman. Vì cô đẹp và hấp dẫn nên được một viên chức cao cấp thèm muốn. Cô có tham vọng sân khấu nên sẵn sàng dùng nhan sắt mình để tiến thân.


Nhân vật thứ tư là Bộ Trưởng Văn hoá Bruno Hempf (Thomas Thieme), một kẻ rất tục lụy, mặt trơ tráng bóng mập ú như Trư bát giái, là điển hình cho những kẻ hối mại quyền thế, sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích.


Nhân vật thứ năm là Trung tá Anton Grubitz (Ulrich Tukur), thượng cấp của Đại úy Gerd Wiesler. Ông cầm đầu một cơ quan khủng bố có hệ thống và phủ chụp một màng lưới theo dõi , rình mò, nghe lóm sinh hoạt Đời Sống Của Những Kẻ Khác, những thành phần bất mãn, chống đối chế độ và tìm mọi cơ hội chụp mũ loại bỏ những kẻ mà ông cho là phản động.


Nhân vật thứ sáu là Albert Jerski (Volkmar Kleinert), bạn của Georg Dreyman, một nghệ sĩ chống chế độ, bị liệt kê vào sổ đen và bị theo dỏi từ nhiều năm qua là người sáng tác Tiểu Tấu Khúc Dương Cầm Dành Cho Thiện Nhân(Sonata For A Good Man). Tiểu tấu khúc này đánh dấu một điểm ngoặt quan trọng trong Đời Sống Của Những Kẻ Khác.


Thời điểm là 1984, đây không phải là một thời điểm tình cờ nhưng chính chủ đích người làm phim muốn liên kết với tác phẩm Nineteen Eighty Four của George Orwell (1903-1950) xuất bản năm 1949 trong đó xã hội dưới mắt Orwell chính là cái xã hội mà người làm phim mô phỏng. George Orwell kịch liệt đả kích chế độ độc tài và chủ nghĩa Staline, đã vẽ ra xã hội con người năm 1984 dưới sự thống trị độc tài của đảng và nhà nước bao gồm:


-Dùng cứu cánh biện minh cho phương tiện.

-Xâm phạm quyền riêng tư cá nhân hoặc bằng cách theo dõi, giám sát hoặc võ lực.

-Kiểm soát mọi sinh hoạt hàng ngày của dân chúng.

-Khuyến khích tù bỏ mọi ràng buộc gia đình.

-Thay thế tôn giáo cổ truyền bằng cách tôn sùng các lãnh tụ nhà nước và đảng

-Viết lại lịch sữ theo chiếu hướng có lợi cho nhà nước và đảng.


Thực ra vào năm 1940, Arthur Koestler (1905-1983), trong tác phẩm chống cộng lừng danh Darkness At Noon cũng đã nói đến sự thanh trừng xẩy ra ở Liên Ban Sô Viết trong thập niên 30. Kỹ thuật thẩm vấn bằng khủng bố tâm lý làm tàn tụy cả tinh thần lẫn thể xác đưa con người buông xuôi trước mọi phản kháng và nhận tất cả tội lỗi họ không hề vi phạm. Nhân vật Nicolas Salmanovich Rubashov sau những ngày đêm dài bị thức trắng dưới ánh đèn cực sáng và phải trả lời hằng trăm lần cùng một câu hỏi cuối cùng đã ‘ quỳ gối trước tổ quốc, trước quần chúng, trước toàn thể nhân dân…’(I bow my knees before my country, before the masses, before the whole people….) xin nhận tất cả lỗi lầm anh chưa bao giờ gây ra. Kỹ thuật thẩm vấn tù nhân của Đại uý Gerd Wiesler cũng dựa trên mô thức này, làm cho trí óc con người căn thẳng đến cực cùng vì không được ngủ và phải trả lời cùng một câu hỏi hằng chục, hằng trăm lần. Wiesler dạy cho sinh viên của anh, nếu một câu hỏi được lập lại nhiều lần mà lần nào nạn nhân cũng trả lời giống nhau tức là đương sự là một kẻ dối trá. Vì chỉ có dối trá mới chuẩn bị câu trả lời hợp nhất như vậy. Còn nếu đương sự trả lời sai thì sao? Tiền hậu bất nhất rõ ràng là đã khai man. Cách nào thì nạn nhân cũng có tội. Không nhận tội hôm này thì cũng sẽ hôm sau hay hôm sau nữa. Trong phim một nạn nhân bị thẩm vấn liên tục 50 giờ đồng hồ cuối cùng đành phải khai tên người đồng phạm. Con người chứ đâu phải cái máy mà có thể chịu đựng trò khủng bố tâm lý này.


* * *


George Dreyman, kịch tác gia hàng đầu của Đông Đức dù ủng hộ chế độ nhưng vẫn đủ can đảm và uy tín chỉ trích và gọt dũa những sai lầm của đảng nên được các thành phần ‘phản động’ khác kết thân và vị nể, một trong số đó là Albert Jerski một nhà soạn nhạc và thành phần chống đối đảng bị liệt kê vào sổ đen. Nhân tình sống chung với anh, cô Christa cũng là người mà Bộ Trưởng Bruno Hempf đeo đuổi và từng dùng quyền lực để chiếm hữu. Muốn độc quyền dành Christa riêng cho mình, ông tìm cách loại bỏ tình địch nên đã hạ lệnh cho người theo dõi George Dreyman. Được sự chỉ định của Trung tá Anton Grubitz, Đại uý Gerd Wiesler đã bí mật gắn máy tình báo trong cư gia của Dreyman và anh cùng một thuộc cấp chia nhau theo dõi con mồi ngày đêm. Khi bắt tay vào việc viên Đại úy mới vỡ lẽ ra rằng sự theo dõi này không phải vì lý do chính trị mà vì giai nhân. Anh là một người còn ấp đầy lý tưởng và vẫn ngây thơ tin tưởng mọi hy sinh , cống hiến con người đều nhằm mục đích phục vụ đảng và nhà nước để sơm đưa xã hội chủ nghĩa đến thiên đường vô sản, nơi không còn gì để cung ứng và không còn ai để cung ứng. Những bài tường trình của anh lên thượng cấp về những hoạt động hàng ngày của Georg Dreyman bắt đầu có ý che đậy và nói cho Christa biết với sắc đẹp và tài năng của cô, cô dư sức tiến thân mà không cần đến một sự bảo bọc nào. Cô Christa nghe theo, cắt đứt liên lạc với viên bộ trưởng. Cùng thời gian này, Albert Jerski, sau khi trao tặng Georg Dreyman sáng tác Sonata for a Good Man treo cổ tự tử. Khi được tin bạn hiền đã vĩnh viễn ra đi, Dreyman đem Tấu Khúc Dương Cầm Dành Cho Hiền Nhân ra dạo. Đây là mấy phút hay nhất trong phim, tiếng đàn siêu thoát tiễn đưa bạn hiền về bến bờ vĩnh c ửu. Tiếng đàn thiết tha khơi dậy thương yêu, khỏa lấp thù hằn. Tiếng đàn chập chùng gợi nhớ tình bạn thiết thân. Bên kia đầu giây, Đại úy Wiesler mang ống nghe theo dõi cũng thẫn thờ với tiếng đàn thanh thoát. Hình ảnh nào đẹp hơn hạt nước mắt lăn dài trên má người cán bộ Cộng sản trung kiên ? Anh được tôi luyện với hận thù, với giai cấp đấu tranh, với ý thức hệ cuồng điên, với ngôn từ huyễn hoặc. Anh đã được ươm trồng những hạt giống độc, theo tháng năm chất chồng, mọc rễ đâm cành che lấp hạt giống lành mà Phật giáo gọi là Phật tính, Khổng giáo gọi là tính thiện (nhân chi sơ tính bổn thiện),

v à Lão giáo gọi là nhân tính hay tính uyên nguyên mà mỗi một trong chúng ta có sẵn lúc mở mắt chào đời. Hạt giống lành vì không gặp cơ duyên và môi trường thích ứng nên đã bị đám bụi đời sống che mờ, chôn kín. Giờ đây trước cùng âm độ giao hưởng tâm hồn người cán bộ dày dạn phong sương bỗng nhũn mềm. Phải chăng âm thanh tiếng nhạc đã làm bốc hơi lòng sân hận, đã bứng được tận gốc những căm thù tưởng rắn chắc như kim cương bất hoại và cho hạt giống lành đâm chồi nẩy nở ?


Sau cái chết đớn đau của bạn, Dreyman liên kết một số thân hữu chống chế độ, viết bài bí mật gửi đăng trên tuần báo Der Spiegel ở Tây Đức, trong đó họ tố cáo sự khủng bố của nhà nước và công bố số người tự tử ở Đông Đức cao hàng thứ nhì trong khối Cộng sản chỉ sau Hung Gia Lợi. Nhà nước bỉ mặt lắm nhưng không thể truy nguồn ra thủ phạm vì loaị máy đánh chữ được dùng không nằm trong danh sách đăng ký với nhà nước. Dreyman bị nghi ngờ và cư gia bị lục soát nhưng chiếc máy đánh chữ nhỏ bằng quyển sách đã được kín đáo dấu dưới sàn nhà nên không bị phát giác.


Bị hụt mất một con mồi, lại bị Christa ruồng rẫy, ông bộ trưởng ra lệnh theo dõi nàng và kết quả nàng bị bắt bỏ tù vì tội mua thuốc an thần không có toa. Trước viễn ảnh bị tù đầy và sự nghiệp tiêu tan cùng mánh lới thẩm cung khéo léo của Wiesler, Christa đã tố cáo Dreyman chính là tác giả bài báo và chỉ nơi dấu chiếc máy đánh chữ. Cuộc lục soát thứ hai do chính Trung tá Grubitz điều động với sự hiện diện của Dreyman và Christa. Lúc Grubitz sắp nhấc tấm ván nơi dấu chiếc máy chữ thì Christa vì hối hận bỏ chạy ra đường và lao mình vào một chiếc xe đang chạy tới. Bên trong, khi tấm ván được nhấc lên, viên Trung tá và chính cà Dreyman đều sửng sờ, chỉ là một khoảng vuông trống lát gạch. Đại úy Wiesler đã nhanh tay đến trước lấy chiếc máy chữ dấu trong xe ông. Dreyman hoàn hồn đuổi theo Christa và kịp ôm thân thể Christa đẩm máu trước khi nàng nhắm mắt.


Bốn năm bẩy tháng sau, Dreyman xuất bản một quyển sách lấy tựa Sonata For A Good Man, đề tặng và tỏ lòng tri ơn mật vụ "HGW XX/7". Đó là bí danh cua Đại úy Wiesler mà tác giả đã truy cứu được từ hồ sơ lưu trử sở mật vụ Stasi. Nhờ tấu khúc dương cầm đó mà anh còn sống sót đến hôm nay. Nhờ tấu khúc dương cầm đó mà Cuộc Đời Của Những Kẻ Khác được cải thiện.


Tôi mượn lời Richard Dawkin trong tác phẩm ăn khách nhất và gây tranh luận sôi nổi nhất hiện nay THE GOD DELUSION, để chấm dứt bài viết này:

If you have Mozart to listen to, why would you need God? (page 86, Richard Dawkins, Bantam Press, Great Britain, 2006)


Lê Tất Đạt

29 tháng 4, 2007



* Dù trong phim không ghi tên tác giả Sonata For A good Man nhưng bài này do by Gabriel Yared sáng tác. Yared là một nhà viết nhạc phim tài danh và cũng là người viết nhạc cho phim The Talented Mr. Riple.

* Đạo diễn Florian Henckel von Donnersmarck cũng là người viết truyện phim năm nay 35 tuổi sinh ở Tây Đức nhưng có liên hệ họ hàng với người Đông Đức.

* Phim n ày chiếm hết mọi giải quốc tế quan trọng năm 2006.

Thursday, April 26, 2007

Tâm Sự bằng Hình Ảnh: Viêt Nam sau 32 năm: Hòang Huy Mạnh


"Thưa quý khách, máy bay cua chúng ta sắp sửa hạ cánh xuống phi cảng Tân Sơn Nhất, xin quý khách trở về chổ ngồi và buộc giây an toàn. Cám ơn quý khách đã bay với hãng hàng không China Airline" .

Giọng bắc của cô tiếp viên người Việt duy nhất vừa cất lên. Nhìn qua ô cửa kính, những đám mây đã thưa dần. Thấp thoáng đâu đó chúng tôi đã thấy được mảnh đất quê hương sau ba muoi hai năm xa cách.

Dòng sông và những con đường , thành phố và những mái nhà đã rõ dần, rõ dần ở bên dưới.
Như bầy chim trốn tuyết sau mùa đông dài lạnh lẽo nay trở về tổ ấm phương Nam, tôi đã không khỏi xuc dộng khi biết được chỉ còn vài phút nữa lúc cánh cửa máy bay mở rộng tôi sẽ được thở không khí quê hương, được gặp lại những người thân, được đến "quê nhà xa lắc xa lơ đó"

Nhìn sang bên cạnh, vợ tôi vẫn trầm ngâm bên khung cửa. Tôi không biết nàng đang nghĩ gì trong giây phút này? Tôi lớn lên ở đây, rong choi ở Tự-Do, ở Công Lý, dạo phố ở Lê Lợi, Nguyễn Huệ, đi học ở ngôi trường bên cạnh cầu Trương Minh Giảng. Chúng tôi đã cùng ra đi trên một chiến hạm của Đài Loan vào một ngày cuối tháng Tư và nay lại cùng trở về trên một phi cơ cũng của Đài Loan. Có phải chúng tôi đã có duyên với xứ sở Trung Hoa Dân Quốc?.

Máy bay đã chạm xuống phi đạo, tôi thấy rất it người tò mò nhìn ra bên ngoài , co lè họ đã hồi hương nhiều chuyến hoặc mới vừa ra đi không lâu. Phi trường vẫn còn một số dấu tích cũ, những bãi đậu trực thăng quân sự vần còn đó nhưng đã hoang tàn. Dấu ấn của một thời chinh chiến. Máy bay chưa ngừng hẳn, chưa có lệnh tháo dây an toàn nhưng không ít người đã đứng dậy sắp xếp hành lý để mau chóng rời khỏi nơi này Nàng vẫn ngồi đó, rất lặng lẽ. Quê nàng ở thành phố biển, nàng có mơ được thấy lại hàng dương liễu?, hàng dừa xanh bên bờ cát trắng?, nàng có mơ "Uống nước dừa hay nước mắt quê hương? ‘

"Chúc quý khách một ngày vui".

________________________________________________
Các bạn cùng các anh chị,

Chúng tôi gửi đến các anh chị một vài ý nghĩ rời rạc cùng một số hình ảnh ghi nhận được qua cuộc hành trình Xuyên Việt trong chuyến về thăm quê hương lần đầu sau gần ba mươi hai năm.
Suốt cuộc hành trình, chúng tôi đã vội vã đi, vội vã ăn và cũng vội vã chụp ảnh theo kiểu Mc Donald thức ăn nhanh của Hoa Kỳ.
Vì thì giờ eo hẹp nên chúng tôi dành rất ít thời gian để thăm viếng thân nhân, đến nổi có một người bạn rất thân mà chúng tôi suýt nửa cũng không dược gặp, gần đến ngày về mới có dịp ăn với nhau một bửa cơm và uống một ly café vào buổi sáng rồi lại lên đường.
Chúng tôi chụp trên đường phố, chup từ bên trong máy bay, xe buýt, qua khung cửa Taxi, từ sau lưng của người lái xe ôm, từ quán café ở một vĩa hè, từ bên trong cửa kính một nha hàng mát lạnh. Từ bình minh cho đến hoàng hôn, chụp vào buổi trưa nắng gắt, chụp đêm khuya khi phố vắng người. Chụpp khi mưa phùn ma người Hanội gọi là mưa bẩn, khi sương mù, khi mây bay lãng đãng trước mắt. Chạy và chụp trên khaắp ba miền nước Việt. Tất cả các hình ảnh đều trung thực, không mầu mè, không dàn dựng. Có ảnh mờ, có ảnh rõ, có ảnh thiếu sáng có ảnh thừa sáng vì không có đầy đủ điều kiện thích hợp.
Chúng tôi không có tham vọng chụp ảnh nghệ thuật trong cuộc hành trình vất vả này mà chỉ muốn ghi lại những cảnh thật, người thật, đời sống thật của quê hương. Trên đường phố thị thành hay trong những ngôi chợ ở một tỉnh nhỏ, có người nhìn chúng tôi với cặp mắt diu dàng, có người nhìn chúng tôi với ánh mắt hung dữ khi bất chợt thấy chúng tôi đưa ống kính về phía họ. Có người xua tay, có người đòi tiền, có người làm điệu. Khi chụp người, khi chụp cảnh, khi thì cảnh và người lẫn lộn vào nhau.

Chúng tôi đã tham lam chụp, không đúng với tư cách của một nhiếp ảnh gia "chính quy": chỉ chụp vào sáng sớm khi có ánh sáng đẹp hoặc buổi chiều khi hoàng hôn xuống. Ngoài ra thì trưa nghĩ uống café, tối nghĩ dạo phố uống café, mưa cũng nghĩ vì sợ hỏng máy.
Buổi tối khi trở về khách sạn, tôi lại phải thức để loay hoay burn các ảnh đã chụp vào DVD, tôi đã khổ vì đống DVD này tại phi trường khi trở về Hoa Ky.
Tất cả ảnh chúng tôi chụp đều dưới dạng Raw nên co lẽ phải mất rất nhiều thì giờ để hoàn tất cho hơn hai trăm GB, thành thử co thể thỉnh thoãng vài ba ngày, vài tuần hoặc vài tháng chúng tôi mới có dịp gửi ảnh chia sẽ cùng các anh chị.
Nếu hứng thú , chúng tôi sẽ có thêm vài lời phi lộ hay ‘ thuyết minh’ về bức ảnh, về nơi chốn chúng tôi đã đi qua
Quê Hương, Kỷ Niệm, cả hai đều đẹp Các anh chị và các bạn đã từng chụp, từng xem ảnh của chính mình hay bè bạn, hy vong các bạn sẽ tìm được một chút kỷ niệm, môt chút gì lạ lùng, bí hiểm qua bộ sưu tập ảnh mới nhất của chúng tôi (hết bài 1)(Xin đón xem bài và hinh ảnh khác sắp tới cũng trên trang blog này)


Click để Xem Hinh về chuyên đi Viêt Nam của Hòang Huy Mạnh sau 32 năm

Tài Tử Richard Gere găp rắc rối tại Ấn Độ

Tuần vừa qua, đám đông ở một số thành phố Ấn Độ đã đốt hình nộm của ngôi sao 57 tuổi từng đóng các phim "Người đàn bà đẹp", "Một văn phòng và một quý ông", "Đĩ đực Mỹ"... sau khi anh ôm nữ diễn viên Ấn Độ Shetty và hôn cô vào má mấy lần trong một buổi truyền thông về HIV/ AIDS tại thủ đô Ấn Độ vào ngày 15/3/2007.

Những bức ảnh chụp cú ôm siết này sau đó được căng trên trang nhất của nhiều báo Ấn Độ, nơi mà kiểu biểu thị tình cảm như vậy là điều cấm kị.

Vị quan tòa kết tội Shetty là đã không cưỡng lại những cái hôn của Gere và lệnh cho cô phải đến hầu tòa vào ngày 5/5. Người phát ngôn của Shetty từ chối bình luận về việc này

Wednesday, April 25, 2007

Ở cuối hai con đường - Phạm Tín An Ninh

Ở cuối hai con đường(Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả xin được kể lạinhân dịp 30 năm từ ngày miền Nam thất thủ)
Phạm Tín An Ninh


Những năm "cải tạo" ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi. Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.

Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận. Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?. Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi , miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.

Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản "lý lịch trích ngang". Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm - bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
- Trong này có anh nào thuộc Sư 23 ?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng :
- Thưa cán bộ, có tôi ạ,. - Anh ở trung đoàn mấy - Trung Đoàn 44
- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
- Vâng, có ạ.

Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên ; - Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó. Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:

- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào ?
- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.

Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc.
Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán bộ được trao trả ? tôi hỏi .
- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị . Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.


Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói :

- Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy. Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một nguòi tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.


Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.

Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng :

- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết. Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.

Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân , quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói.

Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đã đào sẵn. Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-

Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban" , quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng ?

Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :
- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm. Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em :
- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm . Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng.


Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về. Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.

- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không?
- một anh tù hỏi.
- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.

Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng. Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.



Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.

Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm. Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.

Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh. Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại.

Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.

Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó.

Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai. Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.

Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng.

Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ : "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn ".

Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ. Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi.


Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.

Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.

Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.

- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ ? tôi hỏi. - Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.

Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:

- Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
- Ông Thà, Nguyễn văn Thà, Bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan ?
- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.

- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền. Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan.
Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những nguòi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu. Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán.
Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi .

- Bây giờ cháu đang ở đâu ? Tôi hỏi. - Cháu đang trốn ở nhà một nguòi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.

- Ba cháu bây giờ làm gì ? - Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ. Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.

Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức.

Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị. Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang . Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ.

Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.

Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm . Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp.

Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh.

Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này. Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về. Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu.

Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu. Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.

><><><><><><><>< "Các Anh thân quí, Khi ngồi viết nhừng dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác. Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới . Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình. Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây. Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian..."

**-***-****- ***-**

Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ? Phạm Tín An Ninh,Vương Quốc Nauy