(E) Mail thường lại, người không thấy lại... Hoa dương tàn, đã trãi rêu xanh... .Rêu xanh mấy lớp chung quanh... .Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ...

Showing posts with label Môt Nơi Nào Đó. Show all posts
Showing posts with label Môt Nơi Nào Đó. Show all posts

Thursday, September 20, 2007

NỘI - Tiểu Tử -Vùng Paris

NO^.I
Tiểu Tử,
Vùng Paris

- Nội xuống kìa!
- Nội xuống ! Ê ! Nội xuống !
- Nội xuống !
Bầy con tôi reo mừng, chạy ùa ra ngõ. Ngoài đó, tiếng xích lô máy cũng vừa tắt.
Trong buồng, vợ tôi gom vội mấy giấy tờ hồ sơ nhét vào xắc tay, nhìn tôi, im lặng. Tôi hiểu: bà già xuống như vậy, làm sao giấu được chuyện tôi và hai đứa lớn sẽ vượt biên ? Sáng sớm mai là đi rồi …
Tôi choàng tay ôm vai vợ tôi, siết nhẹ :
- Không sao đâu. Để anh lựa lúc nói chuyện đó với má.
Khi vợ chồng tôi bước ra hiên nhà thì bầy nhỏ cũng vừa vào tới sân. Đứa xách giỏ, đứa xách bao, đứa ôm gói, hí hửng vui mừng. Bởi vì mỗi lần bà nội chúng nó từ Gò Dầu xuống thăm đều có mang theo rất nhiều đồ ăn, bánh trái thịt thà … Những ngày sau đó, mâm cơm dưa muối thường ngày được thay thế bằng những món ăn do tay bà nội tụi nó nấu nướng nêm-nếm. Nhờ vậy, mấy bữa cơm có cái phong vị của ngày xưa thuở mà miền Nam chưa mất vào tay Việt Cộng … Mấy con tôi thường gọi đùa bà Nội bằng « trưởng ban hậu cần » hoặc chị « nuôi » và lâu lâu hay trông có bà nội xuống. Và lúc nào câu chào mừng của chúng nó cũng đều giống như nhau : « Nội mạnh hả Nội ? Nội có đem gì xuống ăn không Nội ? ». Mới đầu, tôi nghe chướng tai, nhưng sống trong sự thiếu thốn triền miên của chế độ xã hội chủ nghĩa, lần hồi chính bản thân tôi cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn thôi !
Con gái út tôi, mười một tuổi, một tay xách giỏ trầu của bà nội, một tay cặp-kè với bà nó đi vào như hai người bạn. Bà nó cưng nó nhứt nhà. Lúc nào xuống, cũng ngủ chung với nó để nghe nó kể chuyện. Nó thích bà nội ở điều đó và thường nói : « Ở nhà này chỉ có nội là thích nghe em kể chuyện thôi ! ». Thật ra, nó có lối kể chuyện không đầu không đuôi làm mấy anh mấy chị nó bực. Trái lại, bà nó cho đó là một thi vị của tuổi thơ, nên hay biểu nó kể chuyện cho bà nghe, để lâu lâu bà cười chảy nước mắt.
Tôi hỏi má tôi :
- Sao bữa nay xuống trưa vậy nội ?
Vợ chồng tôi hay gọi má tôi bằng « nội » như các con. Nói theo tụi nó, riết rồi quen miệng. Lâu lâu, chúng tôi cũng có gọi bằng « má » nhưng sao vẫn không nghe đầm-ấm nồng-nàn bằng tiếng « nội » của các con. Hồi cha tôi còn sống, tụi nhỏ còn gọi rõ ra « ông nội » hay « bà nội ». Cha tôi mất đi, ít lâu sau, chúng nó chỉ còn dùng có tiếng « nội » ngắn gọn để gọi bà của chúng nó, ngắn gọn nhưng âm thanh lại đầy trìu mến.
Má tôi bước vào nhà, vừa cởi áo bà ba vừa trả lời :
- Thôi đi mầy ơi ! … Mấy thằng công an ở Trảng Bàng mắc dịch ! Tao lên xe hồi sáng chớ bộ. Tới trạm Trảng Bàng tụi nó xét thấy tao có đem một lon ghi-gô mỡ nước, vậy là bắt tao ở lại. Nói phải quấy bao nhiêu cũng không nghe. Cứ đề quyết là tao đi buôn lậu !
Rồi má tôi liệng cái áo lên thành ghế bàn ăn, nói mà tôi có cảm tưởng như bà đang phân trần ở Trảng Bàng :
- Đi buôn lậu cái gì mà chỉ có một lon mở nước ? Ai đó nghĩ coi ! Nội tiền xe đi xuống đi lên cũng hơn tiền lon mỡ rồi. Đi buôn kiểu gì mà ngu dại vậy hổng biết !
- Dễ hôn ! Nội đâu có để cho tụi nó « ăn » lon mỡ, con ! Mỡ heo nội thắng đem xuống cho tụi con chớ bộ.
Ngừng lại, hớp một hớp nước mát mà con út vừa đem ra, xong bà kể tiếp, trong lúc các con tôi quây quần lại nghe:
- Cái rồi … cứ dan ca riết làm nội phát ghét, nội đổ lì, ngồi lại đó đợi tụi nó muốn giải đi đâu thì giải.
Nghe đến đây, bầy con tôi cười thích thú. Bởi vì tụi nó từng nghe ông nội tụi nó kể những chuyện « gan cùng mình » của bà nội hồi xưa khi cùng chồng vào khu kháng chiến, nhứt là giai đoạn trở về hoạt động ngầm ở thành phố sau này, trước hiệp định Genève …
Con út nóng nảy giục :
- Rồi sao nữa nội ?
- Cái rồi … lối mười một mười hai giờ gì đó nội hổng biết nữa. Ờ … cở đứng bóng à. Có thằng cán bộ đạp xe đi ngang. Nó đi qua khỏi rồi chớ, nhưng chắc nó nhìn thấy nội nên hoành xe lại chào hỏi : « Ũa ? Bà Tám đi đâu mà ngồi đó vậy ? ». Nội nhìn ra là thằng Kiểu con thầy giáo Chén ở Tha-La, tụi bây không biết đâu. Kế nội kể hết đầu đuôi câu chuyện cho nó nghe. Nó cười ngất. Rồi nhờ nó can thiệp nên nội mới đi được đó. Lên xe thì đã trưa trờ rồi … Ti ! Kiếm cây quạt cho nội, con !
Ti là tên con út. Cây quạt là miếng mo cau mà má tôi cắt, vanh thành hình rồi đem ép giữa hai tấm thớt dầy cho nó bớt cong .Má tôi đem từ Gò Dầu xuống bốn năm cây quạt mo phân phát cho mấy cháu, nói : « Nội thấy ba má tụi con gỡ bán hết quạt máy, nội mới làm thứ này đem xuống cho tụi con xài. Kệ nó, xấu xấu vậy chớ nó lâu rách ».
Con út cầm quạt ra đứng cạnh nội quạt nhè nhẹ mà mặt mày tươi rói : tối nay nó có « bạn » ngủ chung để kể chuyện ! Vợ tôi đem áo bà ba của má tôi vào buồng mấy đứa con gái, từ trong đó hỏi vọng ra :
- Nội ăn gì chưa nội ?
- Khỏi lo ! Tao ăn rồi. Để tao têm miếng trầu rồi tao với mấy đứa nhỏ soạn đồ ra coi có hư bể gì không cái đã.
Rồi mấy bà cháu kéo nhau ra nhà sau. Tôi nhìn theo má tôi mà bỗng nghe lòng dào dạc. Từ bao nhiêu năm nay, trên người má tôi chẳng có gì thay đổi. Vẫn loại quần vải đen lưng rút, vẫn áo túi trắng ngắn tay có hai cái túi thật đặc biệt do má tôi tự cắt may : miệng túi cao lên tới ngực chớ không nằm dưới eo hông như những áo túi thường thấy. Mấy đứa nhỏ hay đùa : « Cha … bộ sợ chúng nó móc túi hay sao mà nội làm túi sâu vậy nội ? » Má tôi cười : « Ậy ! Vậy chớ túi này chứa nhiều thứ quí lắm à bây ». Những thứ gì không biết, chớ thấy má tôi còn cẩn thận ghim miệng túi lại bằng cây kim tây !
Tôi là con một của má tôi. Vậy mà sau khi cha tôi chết đem về chôn ở Gò Dầu, quê tôi, má tôi ở luôn trên đó. Nói là để châm sóc mồ mả và vườn tược cây trái. Thật ra, tại vì má tôi không thích ở Sài Gòn, mặc dù rất thương mấy đứa cháu. Hồi còn ở chung với vợ chồng tôi để tránh pháo kích - dạo đó, Việt cộng hay bắn hỏa tiễn vào Gò Dầu về đêm – má tôi thường chắc lưỡi nói : « Thiệt … không biết cái xứ gì mà ăn rồi cứ đi ra đi vô, hổng làm gì ráo ». Cái « xứ » Sàigòn, đối với má tôi, nó « tù chân tù tay » lắm, trong lúc ở Gò Dầu má tôi có nhà cửa đất đai rộng rãi, cây trái xum xuê, và dù đã cao niên, má tôi vẫn thường xuyên xách cuốt xách dao ra làm vườn, làm cỏ. Vả lại chung quanh đất má tôi, là nhà đất của các anh bà con bên ngoại của tôi, thành ra má tôi qua lại cũng gần. Các anh chị bà con tới lui thăm viếng giúp đỡ cũng dễ. Cho nên, dù ở một mình trên đó, má tôi vẫn không thấy cô đơn hiu quạnh. Lâu lâu nhớ bầy con tôi thì xuống chơi với chúng nó năm bảy bữa rồi về. Má tôi hay nói đùa là «đi đổi gió»!
Mấy năm sau ngày mất nước, cuộc sống của gia đình tôi càng ngày càng bẩn chật. Cũng như thiên hạ, vợ chồng tôi bán đồ đạc trong nhà lần lần để ăn. Má tôi biết như vậy nên xuống thăm mấy đứa nhỏ thường hơn, để mang « cái gì để ăn » cho chúng nó. Nhiều khi nằm đêm tôi ứa nước mắt mà nghĩ rằng lẽ ra tôi phải nuôi má tôi chớ, dù gì tôi cũng mới ngoài bốn mươi lăm còn má tôi thì tuổi đã về chiều. Vậy mà bây giờ, mặc dù là công nhân viên nhà nước xã hội chủ nghĩa với lương kỹ sư « bật hai trên sáu », tôi đã không nuôi nổi má tôi, mà trái lại chính má tôi phải cắt-ca cắt-củm mang đồ ăn xuống tiếp tế cho gia đình tôi, giống như má tôi mớm cơm đút cháo cho tôi thuở tôi còn thơ ấu ! Thật là một « cuộc đổi đời » ( Việt Cộng thường rêu rao : « Cách mạng là một cuộc đổi đời » ). Nhưng cuộc đổi đời của mẹ con tôi thì thật là vừa chua cay vừa hài hước !
Lắm khi tôi tự hỏi : « Rồi sẽ đi đến đâu ? ». Bấy giờ tôi đã trở thành « trưởng ban văn nghệ » của cơ quan, một lối đi « ngang » mà nhờ đó tôi còn được ở lại với sở cũ. Bởi vì mấy chục năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp chánh của tôi, nhà nước cách mạng cho là vô dụng, không « đạt yêu cầu ». Thành ra, tối ngày tôi chỉ lo cho đoàn « nghiệp dư » của cơ quan tập dượt hát múa. Thật là hề. Còn về phần các con tôi, tương lai gần nhứt là đi đánh giặc Kampuchia, tương lai xa hơn thì thật là mù mịt !
Trong lúc tôi không có lối thoát thì một người bạn đề nghị giúp chúng tôi vượt biên, nhưng chỉ đi được có ba người. Vậy là chúng tôi lấy quyết định cho hai đứa lớn đi theo tôi. Chuyện này, chúng tôi giấu má tôi và mấy đứa nhỏ, kể cả hai đứa đã được chọn. Phần vì sợ đổ bể, phần vì sợ má tôi lo. Ai chẳng biết vượt biên là một sự liều lĩnh vô cùng. Rủi đi không thoát là bị tù đày chẳng biết ở đâu, may mà đi thoát cũng chưa chắt là sẽ đến bờ đến bến. Người ta nói trong số những người đi thoát, hai phần ba bị mất tích luôn. Thành ra, « vượt biên » là đi vào miền vô định …
Theo chương trình thì sáng sớm ngày rằm cha con tôi đi xe đò xuống Cần Thơ rồi từ đó có người rước qua sông ông Đốc để xuất hành ngay trong đêm đó. Tôi thắc mắc hỏi : « Tổ chức gì mà đi chui nhằm ngày rằm cha nội? ». Bạn tôi cười : « Ai cũng nghĩ như anh hết. Tụi Việt Cộng cũng vậy. Cho nên hể có trăng sáng là tụi nó nằm nhà nhậu, không đi tuần đi rỏn gì hết. Hiểu chưa ? »
Bữa nay là mười bốn ta nhằm ngày thứ bảy, vợ chồng tôi định không nói gì hết, chờ sáng sớm mai gọi hai đứa lớn dậy đi với tôi xuống Cần Thơ. Như vậy là chúng nó sẽ hiểu. Và như vậy là kín đáo nhứt, an toàn nhứt. Rồi sau đó vợ tôi sẽ liệu cách nhắn tin về cho má tôi hay. Chừng đó thì « sự đã rồi » …
Bây giờ thì má tôi đã có mặt ở đây, giấu cũng không được .Đành phải nói cho má tôi biết. Nhưng nói lúc nào đây ? Và nói làm sao đây ? Liệu má tôi có biết cho rằng tôi không còn con đường nào khác ? Liệu má tôi có chấp nhận cho tôi không giữ tròn đạo hiếu chỉ vì lo tương lai cho các con ? Liệu má tôi … liệu má tôi … Tôi phân vân tự đặt nhiều câu hỏi để chẳng thấy ở đâu câu trả lời …
Tôi ngồi xuống thềm nhà, nhìn ra sân. Ở đó, bờ cỏ lá gừng xanh mướt ngày xưa đã bị chúng tôi đào lên đấp thành luống để trồng chút đỉnh khoai mì, một ít khoai lan, vài hàng bắp. Không có bao nhiêu nhưng vẫn phải có. Cho nó giống với người ta, bởi vì nhà nào cũng phải « tăng gia » cho đúng « đường lối của nhà nước ». Thật ra, trồng trọt bao nhiêu đó, nếu có … trúng mùa đi nữa, thì cũng không đủ cho bầy con tôi « nhét kẻ răng » ! Vậy mà tên công an phường, trong một dịp ghé thăm, đã tấm tắc khen : « Anh chị công tác tốt đấy chứ. Tăng gia khá nhất khu phố đấy ! Các cháu tha hồ mà ăn ». Anh ta không biết rằng mấy nhà hàng xóm của tôi, muốn « tăng gia », họ đã phải đào cả sân xi-măng hoặc sân lót gạch, thì lấy gì để « làm tốt »?
Khi tôi trở vào nhà thì con út đang gãi lưng cho nội. Nó vén áo túi nội lên đến vai, để lộ cái lưng gầy nhom, cong cong và hai cái vú teo nhách. Tôi tự hỏi : « Lạ quá ! Chỉ có mình mình bú hồi đó mà sao làm teo vú nội đến như vậy được ? ». Rồi tôi bồi hồi cảm động khi nghĩ rằng chính hai cái núm đen đó đã nuôi tôi lớn lên với dòng sữa ấm, vậy mà chẳng bao giờ nghe má tôi kể lể công lao. Tôi cảm thấy thương má tôi vô cùng. Tôi len lén từ phía sau lòn tay măn vú má tôi một cái. Má tôi giựt mình, rút cổ lại :
- Đừng ! Nhột !Thằng chơi dại mậy !
Rồi má tôi cười văng cốt trầu. Con Ti la lên :
- Má ơi ! Coi ba măn vú nội nè !
Tôi cười hả hê thích thú. Trong khoảnh khắc thật ngắn ngủi đó, tôi bắt gặp lại những rung động nhẹ nhàng sung sướng khi tôi măn vú mẹ thuở tôi mới lên ba lên năm … Và cũng trong khoảnh khắc đó, tôi đã quên mất rằng má tôi đã gần tám mươi mà tôi thì trên đầu đã hai thứ tóc ! Và cũng quên mất rằng từ ngày mai trở đi, có thể tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại má tôi nữa, để măn vú khi bất chợt thấy má tôi nhờ cháu nội gãi lưng như hôm nay …
Chiều hôm đó, khi ngồi vào bàn ăn, mắt bầy con tôi sáng rỡ. Bữa cơm thật tươm tất, đầy đủ món ăn như khi xưa. Có gà nấu canh chua lá giang, một loại giây leo có vị chua thật ngọt ngào mà hình như chỉ ở miệt quê tôi mới có. Món này, bà nội mấy đứa nhỏ nấu thật đậm đà. Bà thường nói : « Canh chua phải nêm cho cứng cứng nó mới ngon ». Mà thật vậy. Tô canh nóng hổi, bốc lên mùi thơm đặc biệt của thịt gà lẫn với mùi chua ngọt của lá giang, mùi mặn đằm thấm của nước mắm và mùi tiêu mùi hành … Húp vào một miếng canh chua, phải nghe đầu lưỡi ngây ngây cứng cứng và chân tóc trên đầu tăng tăng, như vậy mới đúng. Nằm cạnh tô canh chua là tộ cá kèo kho tiêu mà khi mang đặt lên bàn ăn nó hãy còn sôi kêu lụp-bụp, bốc mùi thơm phức vừa mặn vừa nồng cay lại vừa béo, bỡi vì trong cá kho có tóp mỡ và trước khi bắt xuống, bà nội có cho vào một muỗng mỡ nước gọi là « để cho nó dằn » ! Đặc biệt, khi làm cá kèo, bà không mổ bụng cá, thành ra khi cắn vào đó, mật cá bể ra đăng đắng nhẹ nhàng làm tăng vị bùi của miếng cá lên gấp bội. Ngoài hai món chánh ra, còn một dĩa măng luộc, tuy là một món phụ nhưng cũng không kém phần hấp dẫn nhờ ở chỗ sau khi luộc rồi măng được chiên lại với tỏi nên ngã màu vàng sậm thật là đậm đà …
Sau khi và vài miếng, vợ tôi nhìn tôi rồi rớt nước mắt. Nội hỏi :
- Bộ cay hả ?
Vợ tôi “dạ”, tiếng “dạ” nằm đâu trong cổ. Rồi buông đũa, mếu máo chạy ra nhà sau. Tôi hiểu. Bữa cơm này là bữa cơm cuối cùng, bữa cơm mà cả gia đình còn xum họp bên nhau. Rồi sẽ không còn bữa cơm nào như vầy nữa. Gia đình sẽ chia hai. Những người đi, rồi sẽ sống hay chết ? Còn những người ở lại, ai biết sẽ còn tan tác đến đâu ? Tôi làm thinh, cắm đầu ăn lia lịa như mình đang đói lắm. Thật ra, tôi đang cần nuốt thật nhanh thật nhiều, mỗi một miếng nuốt phải thật đầy cổ họng … để đè xuống, nén xuống một cái gì đang trạo trực từ dưới dâng lên. Mắt tôi nhìn đồ ăn, nhìn chén cơm, nhìn đôi đũa, để khỏi phải nhìn má tôi hay nhìn bầy con, ngần đó khuôn mặt thân yêu mà có thể tôi sẽ vĩnh viễn không còn thấy lại nữa. Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh người đang hấp hối, trong giây phút cuối cùng lưỡi đã cứng đơ mắt đã dại, vậy mà họ vẫn nhìn nuối những người thương để rồi chảy nước mắt trước khi tắt thở. Rồi tôi thấy tôi cũng giống như người đang hấp hối, không phải chết ở thể xác mà là chết ở tâm hồn, cũng một lần vĩnh biệt, và cũng sẽ bước vào một cõi u-minh nào đó, một cõi thật mơ hồ mà mình không hình dung được, không chủ động được !
Má tôi gắp cho tôi một cái bụng cá to bằng ngón tay cái :
- Nè ! Ngon lắm ! Ăn đi ! Để rồi mai mốt hổng chắc gì có mà ăn !
Ý má tôi muốn nói rằng ở với Việt Cộng riết rồi đến loại cá kèo cũng sẽ khan hiếm như các loại cá khác. Nhưng trong trường hợp của tôi, lời má tôi nói lại có ý nghĩa của lời tống biệt. Nó giống như : ”Má cho con ăn lần này lần cuối. Ăn đi con ! Ăn cho ngon đi con !”. Tôi ngậm miếng cá mà nước mắt trào ra, không kềm lại được. Nếu không có mặt bầy con tôi, có lẽ tôi đã cầm lấy bàn tay của má tôi mà khóc, khóc thật tự do, khóc thật lớn, để vơi bớt nỗi thống khổ đã dằn vật tôi từ bao nhiêu lâu nay … Đằng này, tôi không làm như vậy được. Cho nên tôi trạo trực nuốt miếng cá mà cảm thấy như nó thật đầy xương xóc !
Má tôi nhìn tôi ngạc nhiên :
- Ủa ? Mày cũng bị cay nữa sao ?
Rồi bà chồm tới nhìn vào tộ cá. Các con tôi nhao nhao lên :
- Đâu có cay, nội.
- Con ăn đâu thấy cay. Hai có nghe cay hôn Hai ?
- Chắc ba má bị gì chớ cay đâu mà cay.
- Con ăn được mà nội. Có cay đâu ?
Các con tôi đâu có biết rằng cái cay của tôi không nằm trên đầu lưỡi, mà nó nằm trong đáy lòng. Cái cay đó cũng bắt trào nước mắt !
Tôi đặt chuyện, nói tránh đi :
- Hổm rày nóng trong mình, lưỡi của ba bị lở, nên ăn cái gì mặn nó rát.
Rồi tôi nhai thật chậm để có thời gian cho sự xúc động lắng xuống. Miếng cơm trong miệng nghe như là sạng sỏi, nuốt không trôi …
Sau bữa cơm, bà cháu kéo hết vào buồng tụi con gái để chuyện trò. Thỉnh thoảng nghe cười vang trong đó. Chen trong tiếng cười trong trẻo của các con, có tiếng cười khọt khọt của nội, tiếng cười mà miếng trầu đang nhai kềm lại trong cổ họng, vì sợ văng cốt trầu. Những thanh âm đó toát ra một sự vô tư, nhưng lại nghe đầy hạnh phúc. Lúc này, có nên nói chuyện vượt biên với má tôi hay không ? Tội nghiệp bầy con, tội nghiệp nội … Ngoài phòng khách, tôi đi tới đi lui suy nghĩ đắn đo. Vợ tôi còn lục đục sau bếp, và cho dù vợ tôi có mặt ở đây cũng không giúp gì tôi được với tâm sự rối bời như mớ bòng bong. Tôi bèn vào buồng ngủ, trải chiếu dưới gạch-từ lâu rồi, vợ chồng tôi không còn giường tủ gì hết- rồi tắt đèn nằm trong bóng tối, gác tay lên tráng mà thở dài …
Thời gian đi qua … Trăng đã lên nên tôi thấy cửa sổ được vẽ những lằn ngang song song trắng đục. Trong phòng bóng tối cũng lợt đi. Không còn nghe tiếng cười nói ở phòng bên và tôi nghĩ chắc đêm nay vợ tôi ngủ với hai đứa lớn ngoài phòng khách, để trằng trọc suốt đêm chờ sáng.
Bỗng cửa phòng tôi nhẹ mở, vừa đủ để tôi nhìn thấy bóng má tôi lom khom hướng vào trong hỏi nhỏ :
- Ba con Ti ngủ chưa vậy ?
Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng cũng trả lời nho nhỏ vừa đủ nghe :
- Dạ chưa, má.
Má tôi bước vào đóng cửa lại, rồi mò mẫm ngồi xuống cạnh tôi, tay cầm quạt mo quạt nhè nhẹ lên mình tôi, nói :
- Coi bộ nực hả mậy ?
- Dạ. Nhưng rồi riết cũng quen, má à.
Tôi nói như vậy mà trong đầu nhớ lại hình ảnh tôi và thằng con trai hè hụi tháo gỡ mấy cây quạt trần để mang đi bán. Im lặng một lúc. Tay má tôi vẫn quạt đều.
Rồi má tôi hỏi:
- Tụi bây còn gì để bán nữ! ;a hông ?
- Dạ …
Tôi không biết trả lời làm sao nữa. Chiếc xe hơi bây giờ chỉ còn lại cái sườn, không ai chịu chở đi. Trong nhà bây giờ chỉ còn bộ bàn ăn, cái tủ thờ nhỏ và bộ xa-long mây “sứt căm gãy gọng”. Ngoài ra, trên tường có chân dung “Bác Hồ” dệt bằng lụa và nhiều “bằng khen”,”bằng lao động tiên tiến” … những thứ mà nhà nào cũng có hết, cho, chưa chắc gì có ai thèm lấy ! Bỗng tôi nhớ có một hôm tôi nói với bầy con tôi : ”Ba tự hào đã giữ tròn liêm sỉ từ mấy chục năm nay. Bây giờ, đổi lấy cái gì ăn cũng không được, đem ra chợ trời bán cũng chẳng có ai mua. Sao ba thấy thương các con và tội cho ba quá !”. Lúc đó, tôi tưởng tượng thấy tôi đứng ở chợ trời, dưới chân có tấm bảng đề “Bán cái liêm sỉ, loại chánh cống. Bảo đảm đã hai mươi năm chưa sứt mẻ”. Thật là khùng nhưng cũng thật là chua chát !
Nghe tôi “dạ” rồi nín luôn, má tôi hiểu, nên nói:
- Rồi mầy phải tính làm sao chớ chẳng lẽ cứ như vầy hoài à ? Tao thấy bầy tụi bây càng ngày càng trõm lơ, còn mầy thì cứ làm thinh tao rầu hết sức.
Má tôi ngừng một chút, có lẽ để lấy một quyết định :
- Tao xuống kỳ này, cốt ý là để nói hết cho mầy nghe. Tao già rồi, mai mốt cũng theo ông theo bà. Mày đừng lo cho tao. Lo cho bầy con mầy kìa. Chớ đừng vì tao mà bắt mấy đứa nhỏ phải hy sinh tương lai của tụi nó. Mầy liệu mà đi, đi ! Kiếm đường mà kéo bầy con mầy đi, đi ! Ở đây riết rồi chết cả chùm. Không chết trận trên Miên thì cũng chết khùng chết đói. Thà tụi bây đi để tao còn thấy chút đỉnh gì hy vọng mà sống thêm vài năm nữa. Mày hiểu hôn ?
Nghe má tôi nói, tôi rớt nước mắt. Chuyện mà bao lâu nay tôi không dám nói với má tôi thì bây giờ chính má tôi lại mở ngỏ khai nguồn. Và tôi thật xúc động với hình ảnh bà mẹ già phải đẩy đứa con duy nhứt đi vượt biên để vui mà sống với ít nhiều hy vọng ! Thật là ngược đời : có người mẹ nào lại muốn xa con ? Chỉ có ở chế độ xã hội chủ nghĩa mới xảy ra những chuyện “đổi đời” như vậy !
Tôi nắm bàn tay không cầm quạt của má tôi, lắc nhẹ :
- Má à ! Lâu nay con giấu má. Bây giờ má nói, con mới nói. Sáng sớm mai này, con và hai đứa lớn sẽ xuống Cần Thơ để vượt biên.
Tôi nghe tiếng cây quạt mo rơi xuống gạch. Rồi yên lặng. Một lúc lâu sau, má tôi mới nói :
- Vậy hà …
Tôi nghe có cái gì nghẹn ngang trong cổ. Tôi nuốt xuống mấy lần, rồi cố gắng nói :
- Con đi không biết sống hay chết. Con gởi má vợ con và ba đứa nhỏ, có bề gì xin má thương tụi nó …
Nói tới đó, tôi nghẹn ngào rồi òa lên khóc ngất. Tôi nghe có tiếng quạt phe phẩy lại, nhanh nhanh, và bàn tay má tôi vuốt tóc tôi liên tục giống như hồi nhỏ má tôi dỗ về tôi để tôi nín khóc.
Một lúc sau, má tôi nói :
- Thôi ngủ đi, để mai còn dậy sớm.
Rồi bước ra đóng nhẹ cửa lại. Sau đó, có tiếng chẹt diêm quẹt rồi một ánh sáng vàng vọt rung rinh lòn vào khuôn cửa, tôi biết má tôi vừa thắp đèn cầy trên bàn thờ. Tiếp theo là mùi khói nhang, chắc bà nội mấy đứa nhỏ đang cầu nguyện ngoài đó.
Tôi thở dài, quay mặt vào vách, nhắm mắt mà nghe chơi vơi, giống như đang nằm trong một cơn mộng …
Năm giờ sáng hôm sau, má tôi kêu tôi dậy đi. Hai con tôi đã sẵn sàng, mỗi đứa một túi nhỏ quần áo. Chúng nó không có vẻ gì ngạc nhiên hay xúc động hết. Có lẽ mẹ tụi nó đã gọi dậy từ ba bốn giờ sáng để giảng giải và chuẩn bị tinh thần. Riêng tôi, thật là trầm tĩnh. Nước mắt đêm qua đã giúp tôi lấy lại quân bình. Thật là mầu nhiệm !
Tôi vào buồng hôn nhẹ mấy đứa nhỏ đang ngủ say, xong ôm vợ tôi, ôm má tôi. Hai người thật là can đảm, không mảy may bịn rịn.
Tôi chỉ nói có mấy tiếng :
- Con đi nghe má !
Rồi bước ra khỏi cổng.
-oOo-
Lần đó, tôi đi thoát.
Rồi phải ba bốn năm sau, tôi mới chạy chọt được cho vợ con tôi rời Việt Nam sang sum họp với tôi ở Pháp. Má tôi ở lại một mình.
Mấy ngày đầu gặp lại nhau, vợ con tôi kể chuyện “bên nhà” cho tôi nghe, h&#! 7871;t c huyện này bắt qua chuyện nọ. Bà Nội được nhắc tới nhiều nhứt và những chuyện về bà nội được kể đi kể lại thường nhứt.
Tụi nó kể :
“Ba đi rồi, mấy bữa sau cơ quan chỗ ba làm việc cho người đến kiếm. Tụi con trốn trong buồng, để một mình nội ra. Nội nói rằng nội nhờ ba về Tây Ninh rước ông Tư xuống bởi vì trên đó đang bị Cao Miên pháo kích tơi bời, tới nay sao không thấy tin tức gì hết, không biết ba còn sống hay chết nữa. Nói rồi, nội khóc thật mùi-mẫn làm mấy cán bộ trong cơ quan tin thiệt, họ an ủi nội mấy câu rồi từ đó không thấy trở lại nữa”.
Rồi tụi nó kết câu chuyện với giọng đầy thán phục :
“Nội hay thiệt !”.
Nghe kể chuyện, tôi bồi hồi xúc động. Tôi biết lúc đó má tôi khóc thiệt chớ không phải giả khóc như các con tôi nghĩ. Bởi vì, trong hai trường hợp dù sự việc xảy ra có khác nhau, nhưng hoàn cảnh sau đó vẫn giống nhau y hệt. “Ba con Ti đi không biết sống hay chết” vẫn là câu hỏi lớn đè nặng tâm tư của má tôi. Bề ngoài má tôi làm ra vẻ bình tĩnh để an lòng con dâu và cháu nội, nhưng là một cái vỏ mỏng manh mà trong khi kể chuyện cho các cán bộ, nó đã có dịp bể tung ra cho ưu tư dâng đầy nước mắt …
“Rồi sau đó -tụi con tôi kể tiếp- nội ở lại nhà mình để chờ tin tức và cũng để ra tiếp chuyện hàng xóm và chánh quyền địa phương, chớ má thì ngày nào cũng đi chùa, còn tụi con nội sợ nói hé ra là mang họa cả đám. Lâu lâu, nội về Gò Dầu bán đồ rồi mua thịt thà đem xuống tiếp tế cho tụi con. Thấy nội già mà lên lên xuống xuống xe cộ cực nhọc quá, tụi con có can ngăn nhưng nội nói nội còn mạnh lắm, nội còn sống tới ngày con Ti lấy chồng nội mới chịu theo ông theo bà !”.
Tôi biết : má tôi là cây cau già - quá già, quá cỗi - nhưng vẫn cố bám lấy đất chỉ vì trên thân cây còn mấy dây trầu … Hình ảnh đó bỗng làm tôi ứa nước mắt. Thương má tôi và nhớ cả quê hương. Cái quê hương tuyệt đẹp của tôi mà Việt Cộng đã cướp mất. Cái quê hương mà trên đó tôi không còn quyền sống như ý mình muốn, phát biểu những gì mình nghĩ, ca tụng những gì mình thích. Ở đó, ở quê hương tôi, tôi còn bà mẹ già, bà mẹ tám mươi đã cắt ruột đuổi con đi, bỏ quê hương mà đi, để bà còn chút gì hy vọng sống thêm vài ba năm nữa ! Bây giờ, vợ con tôi cũng đã đi hết. Má tôi còn lại một mình. Thân cây cau giờ đã nhẵn dây trầu, thêm tuổi đời một nắng hai mưa. Tôi biết ! Má ơi ! Con biết : cây cau già bây giờ đang nhớ thắt thẻo mấy dây trầu non …
Theo lời các con tôi kể lại, hôm tiếp được điện tín của bạn tôi ở Pháp đánh về báo tin tôi và hai đứa lớn đã tới Mã Lai bình yên, cả nhà tưng bừng như hội. Tụi nó nói : “Nội vội vàng vào mặc áo rồi quì trước bàn thờ Phật gõ chuông liên hồi. Đã giấu không cho ai biết mà nội gõ chuông giống như báo tin vui cho hàng xóm!”
“Mấy hôm sau, bỗng có công-an phường lại nhà. Công an đến nhà là lúc nào cũng có chuyện gì đó cho nên nội có hơi lo. Thấy dạng tên công an ngoài ngõ, trong này nội niệm Phật để tự trấn an. Sau đó, nội cũng kể chuyện ba về Tây Ninh rồi nội kết rằng ba đã chết ở trên đó. Rồi nội khóc … ”
Mấy con tôi đâu biết rằng đối với má tôi, dù tôi còn sống, sống mà vĩnh viễn không bao giờ thấy lại nhau nữa thì cũng giống như là tôi đã chết.
“ Sau đó nội than không biết rồi sẽ ở với ai, rồi ai sẽ nuôi nội, bởi vì má buồn rầu đã bỏ nhà đi mất. Nghe vậy, tên công an vội vàng an ủi :
- Bà cụ đừng có lo ! Rồi chúng cháu sẽ đem bà cụ về ở với chúng cháu. Cứ yên chí !”. Sau khi tên công an ra về, nội vào buồng kể lại chuyện đó cho tụi con nghe, rồi nói : “Nội nghe thằng công an đòi đưa nội về nuôi mà nội muốn xỉu luôn ! Không phải vì cảm động mà vì sợ ! Ở với tụi nó, thà chết sướng hơn !”
Vợ con tôi được đi chánh thức nên hôm ra đi bạn bè thân quyến đến chia tay đầy nhà. Lúc mẹ con nó quì xuống lạy má tôi để giả biệt -hay đúng ra để vĩnh biệt- tất cả mọi người đều khóc. Đó là lần cuối cùng mà má tôi khóc với bầy cháu nội. Và tôi nghĩ rằng má tôi khóc mà không cần tìm hiểu tại sao mình khóc, chỉ thấy cần khóc cho nó hả, chỉ thấy càng khóc thân thể gầy còm càng nhẹ đi, làm như thịt da tan ra thành nước mắt, thứ nước thật nhiệm mầu mà Trời ban cho con người để nói lên tiếng nói đầy câm lặng.
Bầy bạn học của các con tôi đứng thành hai hàng dài, chuyền nước mắt cho nhau để tiễn đưa tụi nó ra xe ngoài ngõ. Tôi hình dung thấy những cặp mắt thơ ngây mọng đỏ nhìn các con tôi đi mà nửa hồn tê-dại, không biết thương cho bạn mình đi hay thương cho thân phận mình, người ở lại với đầy chua xót …
Mấy con tôi nói :
”Nội không theo ra phi trường. Nội ở nhà để gõ chuông cầu nguyện”.
-oOo-
Tôi làm việc ở Côte d'Ivoire ( Phi Châu ), cách xa vợ con bằng một lục địa, và cách xa mẹ tôi bằng nửa quả địa cầu. Những lúc buồn trống vắng, tôi hay ra một bãi hoang gần sở làm để ngồi nhìn biển cả. Mặt nước vuốt ve chân cát, tiếng sóng nhẹ nghe như thì thào … những thứ đó làm như chỉ dành cho riêng tôi. Tự nhiên tôi cảm thấy như được dỗ về an ủi. Những lúc đó, sao tôi nhớ má tôi vô cùng. Trên đời này má tôi là người duy nhứt an ủi tôi từ thuở tôi còn ấu thơ cho đến khi trên đầu tôi đã hai thứ tóc. Ngay đến đêm cuối cùng trên quê hương, cũng chính trong vòng tay khẳng khiu của má tôi mà tôi khóc, khi gởi vợ gởi con … Lúc nào tôi cũng tìm thấy ở má tôi một tình thương thật rộng rãi bao la, thật vô cùng sâu đậm, giống như đại dương mà tôi đang nhìn trước mặt.
Bây giờ tôi hiểu tại sao tôi hay ra ngồi đây để nhìn biển cả …

tiểu tử

Friday, June 8, 2007

Một Ngày Ở Saigon - Hoàng Huy Mạnh

Co nhung thanh pho ban yeu men ngay tu buoi dau gap go,
Co nhung thanh pho ban khong he luu luyen khi cat buoc ra di.
Co nhung thanh pho tran day ky niem,
co nhung thanh pho ban khong nho ten nhung con duong.
Va nguoc lai co nhung thanh pho ban nho tung ngo~ ngach, tung con hem, tung goc cay, tung hang` quan’. Chung toi vua dat chan den dat Saigon, xua la thu do, nay la thanh pho. Xua la Hon Ngoc Vien Dong,nay co le van xung dang duoc mang danh hieu cu~ ?. Tu ngay moi tao dung, Saigon nhu da duoc mot ban tay phu thuy bi mat cho uong thuoc truong sinh. Saigon van la Saigon neu khong co mot vai con duong da thay ten, van tran day suc song, van la co gai tuoi doi muoi du da qua biet bao thang tram biet bao thoi dai. Hom nay chung toi dung day,ngay trong long Saigon, thanh pho cua mot thoi tuoi tre. Toi ngam ngui ru*ng le, giot le^. tai ngo voi thanh pho, thanh pho ma toi da chia tay hon ba muoi nam truoc.Chao Tu Do, chao Le Loi, chao Continental, cha`o thuong xa Tax, chao Brodard, cha`o Givral, chao hanh. ngo Saigon than men.

Nam moi len hai tuoi, trong doan nguoi di cu tu Bac vao Nam, gia dinh chung toi cu ngu o Nha Hat Tay mot thoi gian dai. Saigon da dum boc gia dinh toi, da cho toi va biet bao nguoi ho*i tho*? tu do tu ngay ay.Toi da duoc ba me toi, chu toi be^’ di dao pho Bonard, pho Catinat….Co mot lan theo loi me toi ke, toi da ‘lam bay’ ten tay ong chu toi trong con hem Eden, ong da phai voi va be^’ toi tro ve nha. Nha Hat Ta^y thanh Nha Hat Lo*n’, Nha Hat Lo*n’ thanh Quoc hoi roi Quoc Hoi lai tro ve Nha Hat Thanh Pho.Trong hon hai muoi nam vua di choi vua di hoc, toi va Saigon da chung kien biet bao cuoc chinh ly, biet bao cuoc cach mang. Co cuoc cach mang nao ma khong thay doi doi song con nguoi?.

Dung tren bac them cua Nha Hat Thanh Pho hon nua the ky sau tu cuoc di cu dau tien trong doi va ba muoi hai nam tu ngay tho^i chinh chien. Toi khong biet toi dang vui hay toi dang buon? Vui vi duoc nhin thay thanh pho than yeu, buon vi co cam giac sao minh nhu xa la, nhu lac long trong nhip dap cua trai tim Saigon. Cam giac nay no cu mai theo duoi chung toi. Chung toi co don, khong con ai de chung toi chia xe tam su trong luc nay. Moi nguoi chung quanh nhu hoi ha voi doi song, ban ron chuyen don mung ngay Phu Nu. Vo toi di ben canh, chac nang cung co nhung no^~i nie^`m rieng?


Nhin ve phia truoc, nhin sang huong phai, nhin sang huong trai, huong nao cung day ap nhung hinh anh than thuoc. Ben trai la khach san Continental, da duoc phu len mot lop so*n moi, quan café lo thien khong con nua. Chung toi da ngoi o day vao dem Giang Sinh nam mot chin bay tu va khong he nghi do la lan cuoi. Giang Sinh nam sau chung toi lao dao o mot thanh pho la. Truoc khach san co mot chiec cyclo, khong co khach, chi co nguoi tai xe ngoi nghi trong long xe, mat nham lim dim trong rat nhan nha, rat binh yen. Nhung chiec cyclo da to diem cho Saigon, neu Saigon ma vang di nhung chiec cyclo nay thi cung buon ba nhu Saigon vang di nhung ganh hang rong. Goc duong Tu Do va Le Loi van la Givral ngu tri. Pho Le Loi van hien hoa voi nhung hang cay hai ben duong, van dep diu dang voi nhung toa building tien chien va long lay hon voi nhung kien truc moi. Chung toi thong tha di tim hinh bong cu, di tim mot chut huong xua. Khong biet de lam gi?, co the de thoa man nhung da(`n va(.t trien mien van luon ton tai trong tiem thuc,( cung~ co the de la^’y le voi vo ve tri nho cua mot nguoi hay bi che la gia, la da~ qua’ date!). Toi van nho ten nhung con duong dang di, nhung nga tu phia truoc, ten vai cua tiem noi tieng cua thanh do. Hai muoi ba nam Saigon. ba muoi hai nam nhung nho. Cac via he, cac con duong lot gach cho khach bo hanh nhu van con nguyen ven. Nhin nhung vien gach da~ in got giay toi thoi tuoi tre, hon ba muoi nam sau toi lai da^m` len no ma di. Doi toi da moi? mon`, da thay doi qua nhieu, nhung nhung vien gach duoi chan toi hinh nhu van chua kho^’n kho^? vi nam thang. Nhu mot cau tho cua Ba Huyen Thanh Quan ‘ Da van tro gan cung tue nguyet’. Thinh thoang chung toi bat gap nhung ta ao dai pha^’t pho* tren pho, trong cac cua tiem, rat nha^n? nha, rat Vietnam chu khong nhu chung toi, thanh thoi quen tu luc nao khong biet, cu phai chay dua voi thoi gian. Di ma nhu chay, an nhanh, uong voi mac du it ra la trong luc nay chung toi dang duoc dong’ vai nguoi lam chu? thoi gian cua minh. Chung toi tiep tuc tha bo ve huong Cho Ben Thanh, ghe vao dia chi 62 Le Loi. Can pho noi tieng ve sach truoc day, nay da co mot ten moi va cac san pham ben trong cung hoan toan moi, chung toi mua mot vai ta^.p tho* roi lai tiep tuc di. Troi da xe chieu, thinh thoang co vai con gio nhe. Saigon thang ba, khong biet van con Xuan hay Saigon van chi co hai mua mua nang?
Chung toi da biet cach bang qua duong o moi nga tu, neu ban khong biet, ban co the dung mai o goc duong. Day la cach cua chung toi: ban cu tinh bo buoc xuong duong va dong xe se tu dong thay va tranh ban. Rat de va cung rat kho neu nhu ban khong co can dam. Buoc ve pho cho*, ngoi cho voi hinh dang cua no da la mot ky hieu cua Saigon. Voi bon cua Dong, Tay, Nam, Bac, cho Ben Thanh da len hinh bia cua biet bao nhieu quyen sach, da duoc dung lai de quay phim. O Hoa Ky, moi thanh pho deu co mot shopping noi tieng, o Vietnam, tu lau, moi thanh pho da co mot ngoi cho noi tieng mac du ban chua he dat chan den vi ten cua no da di vao tho van, di vao lich su. Cay cau sat truoc cong cho bat ngang qua cong truong Quach Thi Trang noi co tuong cua danh nhan Tran Nguyen Han khong con nua, toi khong biet da duoc pha bo tu luc nao. Hinh nhu tu ngay toi con o trong nuoc thi phai. Ma pha no di thi cung la hop ly vi khach bo hanh khong ai xu dung no de bang qua duong ca, nhat la nhung nguoi buon thung ban bung. Cay cau nay da lam xau di bo mat cua ca mot goc pho Saigon. Tu cua chinh cua cho Ben Thanh nhin xeo ve huong trai la benh vien Do Thanh, ben canh co mot building, toi khong nho building nay co thuoc ve benh vien hay khong?. O phia tren toa nha do, ngay xua co mot man anh nho de chieu cac tin tuc bang chu die^.n, cac ban tin duoc chay.tren man anh nay. Thoi do, no bieu hien mot cai gi rat la ‘high tech’ cua Saigon. Ngay nay, co le tin tuc da du* thu*`a nen nhung dong tin ngan do da duoc thay the bang tam bieu ngu nen do choi voi chu vang ‘Vietnam-Ho Chi Minh Muon Nam’.

Ngoai Cho Ben Thanh, nha tho Duc Ba hay Vuong Cung Thanh Duong cung la mot bieu tuong cua Saigon, neu ban hoi toi nha tho Duc Ba o dau thi toi se cho ban la mot nguoi ngo ngan hoac la ban chua he dat chan den Saigon. Chung toi den day hoi tre, mac du con den gan muoi phut moi het gio tham vieng nhung khi chung toi vua buoc vao ben trong thi da bi mot nguoi dan ba chan lai va moi ra voi mot cau noi duy nhat, co^.c lo^’c ‘he^’t gio*`’.Nguoi dan ba do neu biet chung toi da tre ba muoi hai nam, khong biet ba ta co mo long nhan ai cua Duc Me Maria ma cho chung toi vao hay khong?. Rat tiec cho den ngay roi Vietnam, chung toi da khong co dip tro lai de vao tham vieng ngoi Thanh Duong nay. Ben canh Thanh Duong la nha Buu Dien, chung toi cung chi chup hinh tu ben ngoai chu khong vao ben trong. Nhu moi co quan cua chinh phu, nha Buu Dien cung da duoc to diem, duoc cham soc ky luong vi day cung la mot dia diem duoc rat nhieu du khach tham vieng. Ngay xua neu ban thich an banh mi thi ban khong the nao quen banh mi buu dien, chu nhan no bay gio o dau?, da luu lac phuong nao?
Tu Do bay gio khong con nua, da la Dong Khoi hay noi mot cach khac Dong Khoi da thay the cho Tu Do. Da quen voi Tu Do, da gan bo voi Tu Do nen chung toi van muon goi con duong nay bang ten cu cua no. Tu Do ngay xua va hom nay van la mot con duong ma toi yeu thich, tuy khong tho mong nhu Duy Tan cay dai bong mat nhung di tren Tu Do chung toi co cam giac nhu da bo lai sau lung nhung uu phien cua doi song. Chung toi ghe vao cac gallery de xem tranh, tat vao xem sach, du*`ng cha^n o mot thuong xa de xem thoi trang cua gioi tre, ngam nhung ta ao dai tren nhung than hinh cua cac mannequin sau khung cua kinh.Di len roi lai di xuong tren con duong nay, den khi moi met chung toi da dung chan ngay truoc Nha Hat Thanh Pho, o do co mot chi voi mot ganh ma hai ben thung la nhung qua dua tuoi. Chi da moi chung toi “ mua dum em di anh, chi co nam ngan mot trai” toi khong co y dinh tra gia va cung khong biet tra gia nhung chi da noi them “ em ban o day gia re nhat, moi trai chi loi co vai tram “. Toi mua va xin phep duoc chup chung voi chi mot tam anh de lam ky niem. Ngoi ben canh chi, phia sau lung toi la trai ty nan ma gia dinh toi da cu ngu vao nhung ngay dau tien khi lia xa dat Bac den nay da hon nua the ky. Truoc mat toi la mot cong vien, o do trong tri nho cua toi co mot tuong dai ky niem Thuy Quan Luc Chien, tuong dai do nay da khong con`.
Trong suot quang doi nien thieu, Saigon va Tu Do da co nhieu ky niem trong toi. Toi hoc o truong trung hoc Nguyen Trai, truong toi luc moi di cu tu Bac vao Nam da dung mot co* so*? tam tren duong Phan Dinh Phung. Sau do thi xay truong moi ben Khanh Hoi, moi ngay toi dap xe tu nha di den truong. Tren duong ve, tu cau Quay, toi hay re sang Ben Bach Dang di bang ngang tru so Thuong Vien. Den khach san Majestic thi re trai vao Tu do, dap xe mot vong pho truoc khi ve nha. Hoac den mua me chin, toi va vai dua ban di ve^` bang duong Cong Ly de hy vong nha(.t duoc nhung trai me chin ro*i rung. tren via he. Co ky niem tam thuong, co ky niem binh thuong, co ky niem vui, co ky niem buon. Co ky niem quanh quan o mot goc cay, o san truong. Co ky niem di hoan ho^, di da? dao?, di xem dao chanh. Co ky niem voi nguoi yeu, co ky niem voi ban huu. Co ky niem sap di lam linh va co nhieu ky niem rat do^~i tang thuong.Mai day khi toi roi xa thanh pho, toi lai mang di voi toi nhieu nhung nho. Ky niem moi se chong chat len ky niem cu hay ky niem moi lai lam phai nhat di qua khu?, toi khong biet toi co con du suc de ma om ap no mai hay khong? Ngoi tren bang ghe da truoc nha hat lon, nhin dong xe troi chay tren con duong Tu Do, nhin khach san Caravelle, nhin can pho doi dien o goc duong dang duoc sua sang. Truoc can pho nay co mot dong chu viet tay bang son rat ro net “Louis Vuitton, opening soon”. Cach day khong xa, tren Tu Do gan khach san Shareton Saigon cung co mot can dang sua chua voi dong chu ben ngoai “ Gucci, opening soon”. Nhin nhung dong chu do, toi tham nghi Tu Do van co mot doi song rieng, van la Tu Do cua toi trong tri tuong?.

Ganh hang dua van con do, toi khong biet den khi nao chi moi tro ve nha?

…Co nhung thanh pho ban rat luu luyen khi cat buoc ra di.

Uong Nuoc Dua Hay Nuoc Mat Que Huong?

Hình Nhiều Hơn + Hình Lớn hơn Click nơi đây

Hoang Huy Manh

Saturday, June 2, 2007

Nhật ký của "ba ngày hưởng thọ" -Phạm Cơ



Bạn chúng tôi, anh Trần Ngọc Cư có nói:
“Một phút hưởng thọ, bằng 10 năm hưởng dương”
(bạn Cư chia cuộc đơi đáng sống của chúng ta làm hai giai đoạn: trước 60 và sau 60 tuổi. Nếu bạn chẳng may qua đời trước năm 60 trên các cáo phó, phân ưu, bạn đươc liệt kê là hưởng dương bao nhiêu tuổi, Sau 60 bạn được kêu là hưởng thọ)

Vâng lời bạn Cư, tôi đã đi Cali một mình thay vì đi với vợ, nỗi buồn xa vợ con 3 ngày cũng qua đi và được thay thế bằng những ngày vui với bằng hữu…

Thứ Sáu 25 tháng Năm 2007:
Đến từ Houston Texas, Trần Đại Hiền đã chờ sẵn ở nhà… 3 giờ chiều Lê Quang Bảo, lê văn Thạnh và 3:30 Trần Ngọc Cư chở Cung Trọng Bảo đến từ San Diego, đến nơi…
Những chuyện ngày xửa, những chuyện ngày xưa , những mối tình Hòang thị lại được lôi ra từ một góc ký ức nào đó, để nổ như bắp rang,... những ngày xưa thân ái, những mi, mi, tau tau những tiếng Huế của một thời đươc phung phí xài thả ga không ai trách móc… Đến 2 giờ sáng

Thứ Bảy 26 tháng Năm 2007: 6 giờ sang, rời nhà đi dự tiệc cưới , rước dâu từ Los Angeles, về Anaheim, ăn cơm trưa, tối lại nhà hang Tàu ở Cerritos..đến 10 giờ khuya…Cũng may, tôi mang theo được cái GPS cầm tay, nên lên xe là thả ga bấm nút để cho cái máy chỉ đường đưa mình trở lại nhà Trần Đại Hiên không chút khó khăn… Lại văn nghệ đến 2 giờ sáng đặc biệt đêm nay có thêm Vợ chồng Hòang Ngoc Chương, Anh Chị Vũ, Chị Mỹ Dung…Chị Mỹ Dung một người mới quen, nhưng đã để lại một ấn tượng sâu đậm vơi mái tóc cắt ngắn, giọng hát êm ả, và dáng nghiêng nghiêng ôm đàn đến giữa đời….

Chủ Nhật 27 tháng năm 2007 Đến nhà Lê văn Thạnh…Nhà có sân vũ cầu, có các bạn mới từ Hôi Cựu Sinh Viên Đại Học Vạn Hạnh, có Lê vĂn Thạnh lịch thiệp hào hoa, có chị Diệu Vân, nấu bún bò không cần nếm mà vẫn ngon!!!

Hôm nay Nguyên Đinh Tý đưa tôi gặp lại Nguyễn Ngọc Cầm, bạn cùng thời QH 61-64, sống chung tại Pleiku gió bụi mưa bùn cho đến ngày mất nước… Găp lại nhau cả 2 thằng quá cảm đông nhất là chị Cầm nhắc lại cho tôi những ngày hoa mộng của Pleiku bên các cô giáo trẻ trung độc thân của 2 trường trung học Pleiku (nam) và Pleime (trường nữ) lúc bấy giò…
Phố núi cao , phố núi đầy sương…phố núi cây xanh, trời thấp thật buồn
….
Còn một chút gì để nhớ, để thương
Có lẽ thiên ký sự nay nên dừng lại nơi đây để khỏi vơi đi các niềm thương nhớ ấy
PS: Ngày trở về không quên ghé thăm bạn Lê Văn Phi, vừa ở nhà thương về, Chị Phi cho môt hộp tôm chua... Trơi ơi có thịt heo luộc thì cũng đủ lãng quên đời đấy nhé

Phạm Cơ
Tháng Sáu trời mưa của Houston

Hình Lớn Hơn Hình Nhiều Hơn Xin Click Link này

Thursday, May 24, 2007

Có phải em mang trên áo bay -Hoàng Huy Mạnh


Co phai em mang tren ao bay
Hai phan gio thoi, mot phan ma^y
Hay la em go’i ma^y trong ao
Roi tho*? cho la`n ao trang bay?



Toi khong biet co phai thi si Nguyen Sa viet nhung cau tho nay de ta canh cac thieu nu trong ta ao dai vao mot buoi chieu tan hoc hay khong, nhung toi nho mai hai cau ‘co phai em mang tren ao bay / hai phan gio thoi mot phan may ‘ moi lan nhin thay cac ta ao tung bay trong gio. Ngoai bai Tuong Tu, thi si Nguyen Sa con mot bai nua ma hoc sinh chung toi thoi do ai cung thuoc nam long,



Nang Saigon anh di ma chot mat
Boi vi em mac ao lua Ha dong
Anh van yeu mau ao ay vo cung
Tho cua anh van nguyen mau lua trang




Bai nay toi chac la thi si cung ta canh ong dang nhin theo mot thieu nu trong ta ao dai nhung lai vao mot buoi trua nang gat. Nhin da’ng em di, nhin ao em mac ma long thi si mat ruoi thi du biet ta ao dai cua cac co gai Viet no co mot hap luc, mot suc quyen ru biet chung nao! Ben canh Nguyen Sa, thi si Nguyen Tat Nhien cung da lam chung toi ngay ngat khi o^ng viet lai canh? o^ng di theo hay tuong tuong o^ng dang di theo tan’ tinh? nguoi yeu cua ong duoi con mua qua bai tho Ma Soeur



Dua em ve duoi mua
Noi nang chi cung thua
Phat pho* do*`i suong gio
Ho^`n minh gan nhau chua?


………………………….

Dua em ve duoi mua
Ao dai sa^`u hai vat
Khi cha^’m bu`n lu*a thu*a..




Ngoai Nguyen Sa va Nguyen Tat Nhien con biet bao nhieu thi si nua da tuc canh sinh tinh khi nhin cac thieu nu tha thuot trong ta ao dai, da de lai cho the he chung toi thoi do nhung van tho trac tuyet. Chi tiec toi khong biet lam tho, neu biet thi chac toi cung da noi tieng trong lang van nghe tu lau.


Qua My, cac van tho loai nay khong con thay xuat hien nhieu nua. Nguoi Viet thi thua thot, cac thieu nu Viet thi khong con dip de mac ao dai nhu xua. Chang le lam tho ca tung cac bo vay’ da^`m, cai ao Jacket thi coi ky qua, dau co’ co^’ gang thi toi nghi cac nha` tho* cung se khong co du? rung dong de^? de^.t nen nhung giai dieu nhe nhang thi vi. Thi si Han Mac Tu neu song o day cung voi toi chac cung khong the nao co duoc van tho:



Mo* khach duong xa, khach duong xa
Ao em trang qua, nhin khong ra
O day suong khoi mo nhan anh
Ai biet tinh ai co da^.m da`?


Chiec ao dai o My da gan nhu bi di vao quen lang, thinh thoang chi con thay cac em sinh vien mac trong cac buoi trinh dien thoi trang vao dip tet.Trinh dien xong, cac em lai mac ngay vao nguoi chiec quan Jean thuong le. Neu la thi si toi cung dau co kip de lam tho. Thinh thoang khi ranh roi toi cung tim sach bao trong nuoc hoac len net tim tho de doc, de xem cac thieu nu, cac nu sinh bay gio co con trong ta ao dai co con duoc cac nha tho hien dai ca tung nhu thoi chung toi may muoi nam ve truoc hay khong? Cho den nay toi van chua tim doc duoc bai tho nao ung y ve ta ao trang. Di nhien la tho*`i dai. moi, con nguoi moi, van chuong cung phai moi nhung sao toi van mai luu luyen nhung hinh bong cu, nhung van tho co^? die^n? xa xua.

Ban than men,

Sang nay ranh roi, chung toi thue taxi cho di mot vong xem pho xa. Nhin tam bieu ngu treo tren duong toi moi biet hom nay la ngay Quoc Te Phu Nu, ngay ma phu nu duoc de cao, duoc xung tung. Nha nuoc thi nhac nho dan chung khong quen cong duc cua Hai Ba Trung qua tam bich chuong toi vua doc duoc.Con` nguoi dan binh thuong thi toi nghi cac ong chong di nhien se ca tung vo hien, cac chang trai co le se mua hoa tang nguoi yeu.( toi thay rat nhieu cac em be cam hoa di ban dao) Con toi thi lai mien man nghi ve nhung bai tho ca tung tuoi hoc tro may muoi nam truoc,( co vo ngoi ben canh nen toi khong dam suy nghi la(ng nha(ng). Taxi cho chung toi moi vua di ngang ngoi truong Nu Trung Hoc noi tieng ngay xua, da di qua nhung ngoi truong moi ngay nay. Truoc cong truong hay tren duong pho, toi van thay thieu vang nhung ta ao, nhung dung nhan da tao nen nhung van tho ma toi yeu thich. Nhin ngam chung quanh toi chi thay da so^’ cac co^ khi lai xe thi dau doi mu, khuon mat duoc che lap boi mot mieng vai bit ngang truoc mat. Toi hoi tham nguoi tai xe^’ va duoc cho biet mieng vai che mat do goi la khau trang. Co’ co^ co`n mang them mot bao tay dai va mang bi’ ta^’t bit. kin’ ban chan. Thinh thoang chung toi moi thay co’ co^ con` de^? da^`u tra^`n, ma(.t tra^`n, tay tra^`n tren pho. Do la luc moi thay duoc toc gio thoi bay, moi thay duoc dai tay em may thuo mat xanh xao hoac toc em tung soi nho rot xuong doi lam song len denh. Hanh phuc vo cung.


Toi moi tro ve nen khong biet khau trang da du nhap vao Viet nam tu da^u? cac co da bat dau deo khau trang che kin khuon mat chi chua doi mat tu luc nao va voi muc dich gi? De tranh bui vi khong khi o nhiem hay de anh na(‘ng khong lam den lan da? Hay la de tranh cho cac chang khoi deo duoi tan’ tinh? loi thoi? Du voi muc dich gi chang nua, toi nghi day la su thiet thoi cho rat nhieu nguoi. Thi si se thieu vang nguon cam hung de sang tac tho ca tung net dep cua nguoi con gai. Nhu bai tho cua Huy Can. Em dep ban tay, ngon thon thon. Em duyen doi ma, na(‘ng hoe tron, Em lua gio biec vao trong toc. tho^?i lai phong` anh ca nui non. Du khach ngoai quoc se mat co hoi duoc chiem nguong net dep diu dang duyen dang cua nguoi phu nu Vietnam. Ho se thac mac, ua, day khong phai la mot xu Hoi Giao ma sao co nhiey nguoi bit mat vay ca? Neu ho cung so na(‘ng, so bui ba^.m va cu`ng ru nhau di mua mot khau trang thi khong biet bo mat thanh pho Saigon hoa le^. se ra sao?. Rieng toi, thu*a ban.,trai tim toi von hay da^.p lung tung lai mat di co hoi them mot lan rung dong.

Ngay xua tren cac to*` nha^.t bao, trong trang tim ban bon phuong hay co cau ’ thieu nu diu hien, tren hai muoi tuoi. Yeu mau tim, thich mau trang, sac dep thi tuy nguoi doi dien’ . Ngay nay voi tam khau trang, sac dep ai cung nhu nhau. Chi khac nhau o chat lieu va hinh dang cua tam khau trang, co loai may bang vai cotton, co loai may bang vai polyester, co loai vai? tro*n, co loai vai hoa. Co loai chi che mui~ va mieng, co loai che luon xuong ta^.n co^?. Toi chac la tuy theo gia ca va so thich cua moi nguoi. Hom nay nhan ngay Phu Nu, ngoai viec nho on cong duc Hai Ba, nho on cong duc cua nhung nguoi me Vietnam tao tan, than co lan loi. Toi tham cau mong nhung tam khau trang mot ngay nao do se khong con tren que huong, de toi duoc nhin thay ro khuon mat cua cac be tho, thay ro nu cuoi cua cac em hoc sinh sau gio tan hoc, thay ro phan son ma cac co da diem trang cho doi them tuoi dep.

Ban than men,

Thieu di tam khau trang thi nuoc da cua ban co le se~ ho*i na^u them mot chut nhung biet dau vi vay ma lai cang them quyen ru~, the^m ma(.n ma` duyen dang. Toi khong biet lam tho nhung lai hay lay tho nguoi khac, xu dung lung tung, dem ta(.ng bua bai. Hom nay, cung lai nhan ngay Phu Nu, tren duong tu Hoa Hung ra pho Saigon, bo^n? cu~ soan lai xin tang ban may cau tho cung cua thi si Nguyen Sa.

Saigon di rat cham buoi chieu
Canh tay ta ao sat vong eo
Co nghe doi mat vong quanh ao’
Nam ngon tho* buon du*’ng ngo theo.


…………………………………………

Saigon mai goi nhau bang cu*ng
Vanh moi nghieng canh’ xuong pha^n va^n
Lu*ng troi khong co ba^`y chim en’
Thanh pho di ve^` cung da xuan.


Toi noi nang khong biet giu loi, hay bi vo la vi toi phat ngon bua bai. Tam khau trang doi voi ban la mot quen thuoc, than thuong nhung voi toi no da phu kin ca mot dung nhan ma toi uoc ao duoc chiem nguong. Ban than men, nhung loi tam su cua toi neu lam ban buon long, toi hua se dai ban mot ly nuoc o quan sinh to truoc cong truong de thay loi ta lo^i~.

Uong nuoc dua hay nuoc mat que huong?

Hoang Huy Manh
More Pictures, Bigger Pictures Click at this Link

Monday, May 14, 2007

Hòa Hưng Chào Buổi Sáng - Hòang Huy Mạnh (#2)


Chúng tôi thức dậy lúc năm giờ sáng, leo lên sân thượng để đón bình minh. Những ngày đầu trong cuộc hành trình chúgng tôi ở trọ nhà một người thân trong khu Hoà Hưng thay vì ở khách sạn, chúng tôi chọn nơi đây vì Hòa Hưng là nơi tôi đã song những năm tháng dài trươc ngày rời khỏi nước. Ba tôi là Hiệu trưởng một trường Trung Tiểu Học duy nhất của vùng này, và nhà chung tôi ở ngay trong khuôn viên của ngôi trường, thành thử đa số cư dân lâu đời ở đây đề biết ba tôi, hoặc là học trò cũ của ba tôi. Hồi đó trong xóm đều gọi chúng tôi là con Ông Giáo hay là con thầy Bích.
Ngày đầu trở về đươc sống trong không gian của một khu phố thân thuộc là một niềm hạnh phúc. Chúng tôi có cơ hội được nhìn thấy tận mắt sinh họat bình thường của người dân.

Mặt trời chưa lên nhưng bên dưới đã ồn ào tiếng động, có người chuẩn bị chất đồ lên một chiếc xe ba gác, có người gồng gánh đã lên sẵn trên vai, người thì ra sân trước tập thể dục, và đằng xa cuối con hẽm, nhưng chiếc ghé nhựa thấp màu đỏ đã được bày ra để sẫn sành bất đầu cho một ly cà phê buổi sáng.

Văng vẳng đâu đó, vọng lại một tiếng rao hàng rất thân quen, dù tôi không hiểu được họ bán món gị, vì cách thức rao, giọng rao và ngôn ngữ hình như có khác hơn xưa…
Mặt trời đã ửng hồng, nhưng đã bị các căn nhà cao chung quanh che lấp.

Không xa lắm, những mái nhà lợp tôn quen thuộc chen lẫn vơi những bức tường gạch xanh, hồng dưới anh sáng của buổi sớm mai đã tạo nên một hình ảnh rất lạ lùng, một đối chọi về cao thấp, môt đối chọi về màu sắc mà chỉ có thể thấy được từ trên cao trong một căn hẽm nhỏ nơi chúng tôi đang đứng.

Không biết từ lúc nào, tôi đã yêu thich những con hẽm, mặc dầu ngày xưa tại nơi đây, tôi đã từng bị đón đường giựt bút máy khi đi học về, bị du đãng chận đường hỏi thăm sức khỏe vì cái tội để tóc dài. Ngòai phố là những kẻ xa lạ, nhưng vùa bước vào hẽm là những ai đó thân quen, rộn rã tiêng chào và lời hỏi han thân mật.

Cuối hẽm lớn rẻ vào một hẽm nhỏ, cuối hẽm nhỏ tưởng đã cùng đường, nhưng lại có lối rẻ vào một con hẽm khác nhỏ hơn trông rất là bí hiễm, và rất dễ … lạc lối về…

Từ lúc nào không biết, một cô bé hàng xóm đang cầm chổi quét trước sân, quét xong sân nhà cô, cô lại chịu khó quẻt luôn sân nhà bên cạnh, À a, ở Mỹ không có cái vụ này, nhà ai nấy lo, làm dùm đôi khi còn bị kiện cáo lôi thôi nửa là đằng khác…Tiếng rao hàng đã rộn rã hơn, các em nhỏ đã chuẩn bị để bố mẹ chở đi đến trường, sạp bán bún bò đã có người ghé vào ăn trước khi đi làm… Cả một không gian, cả một đời sống của thành phố Saigon, hình như được thu nhỏ ở đây, có lẽ tôi yêu mến những con hẽm là vì thế.

Tôi yêu những con hẽm, tôi yêu sự cần cù khó nhọc của người dân Việt, tôi yêu sự hiền hòa chất phác của anh bạn lái xe ôm, của em bé bán vé số, của bà cụ bán thuốc lá đầu ngõ (ngày xưa tôi hay mua nợ thuốc lá nên tôi rất có cảm tình vơi những ai bán thuốc lá). Như một đứa bé lần đầu tiên được bố mẹ dẫn đi du ngoạn, mọi hình ảnh trước mắt đồi với chúng tôi đều mới, đều lạ... Những hình ảnh này nếu trước kia tôi có may mắn đươc thấy thì chắc chắn ngày nay cũng đã bị xòa nhòa trong ký ức của tôi sau hơn ba mươi năm xa cách…

Hôm nay trở về, ký ức khởi động, và với tâm thức của một người yêu thich nhiếp ảnh. tôi tò mò quan sát và ghi lại qua ông kính của tôi…

Có người hồi hương để tìm lại hương vị cuộc chơi, thức ăn ngày cũ trong các hộp đêm hay các vũ trường..
Có người hồi hương để tìm ý trung nhân, họ sẽ theo dõi sát các bóng hồng…
Có người hồi hương chỉ để thăm gia đình, họ sẽ quanh quẩn trong căn nhà cũ bên cạnh những người thân…
Có người hồi hương để hy vọng chụp được những tấm ảnh để đời, họ sẽ tìm đến các danh lam thắng cảnh…

Riêng chúng tôi, chúng tôi trở về, không với một mục đích gì cao siêu, mà chỉ để sống và hít thở không khí quê hương, dù chỉ vài tuần ngắn ngủi…được ăn xòai tượng xanh chấm nước mắm đường, được ăn những trái cốc đã gọt võ tách ra từng múi, cắm vào một cây nhỏ có muối ớt đỏ hồng…

Trong vài tuần ngắn ngủi đó, những hình ảnh chung quanh đã đánh động vào tiêm thức, vì vậy tôi nảy ra ý định viết về những ý nghĩ riêng tư rời rạc của mình để chia xẽ với vợ tôi, với các em tôi, với các bằng hữu….

Nhưng gì tôi đã kễ, có thể là những chuyện xưa như trái đất mà bạn đã không thèm để ý đến….Những ánh tôi đã chụp là những hình ảnh rất tầm thường, nếu gửi đi dự thi, thì cầm phần chắc là được ném vào trong sọt rác, nhưng đối với chúng tôi, nó đã chuyên chở cả tấm lòng của tôi lúc bấy giờ...

Nhiều khi những gì tôi đã viết sẽ làm cho bạn cãm động, và muốn hồi hương thêm một chuyến nữa…

Nhưng nhiều khi cũng có thể làm cho bạn bực mình….biết rồi, khổ lắm nói mãi…Cái tên Hòang Huy Mạnh này thật dở hơi, biết là nóng, biết là ồn ào sao còn về làm gì? Đã chẳng lo hưởng thụ thì chớ, lại còn viết và chụp những chuyện lăng nhăng vớ vẫn… Cái building cao lớn đẹp thế kia mà không chịu chụp lại đi chụp nhừng mái tôn rĩ sét?…

Thua bạn, nếu bạn trách tôi thì tôi dành chịu, chứ không biết giải thich làm sao?
Tôi mới đến chưa ở trên quê hương trọn một ngày, mong bạn kiên nhẫn cùng tôi đi cho hết cuộc hàmh trình.

Chủ nhà đã thức giấc, anh ngạc nhiên tai sao chúng tôi lại có thể dậy sớm, mà không chịu ngủ thêm sau một chuyến bay dài nhọc mết…An him lặng theo dõi chúng tôi chụp hình, rôi rũ chúng tôi ra quán cà phê Sông Mê gần nhà để thưởng thúc ly cà phê đầu tiên trong một buổi sáng đầu tiên trên quê hươn.

Quán rất dẽ thương, tên quán cũng dễ thương mặc dù tôi không hiểu lắm ý nghĩ của Sông Mê, mê muội như một gìòng sông chăng? Hay như tôi?, một người già nhưng chưa bào giờ tỉnh táo? Người hầu bàn đã đem đến cho chúng tôi một tấm thức đơn

Uống nước dừa hay nước mắt quê hương?

Hòang Huy Mạnh

Hình Lớn Hơn, Hình Nhiều Hơn Xin Click ngay link này

Thursday, April 26, 2007

Tâm Sự bằng Hình Ảnh: Viêt Nam sau 32 năm: Hòang Huy Mạnh


"Thưa quý khách, máy bay cua chúng ta sắp sửa hạ cánh xuống phi cảng Tân Sơn Nhất, xin quý khách trở về chổ ngồi và buộc giây an toàn. Cám ơn quý khách đã bay với hãng hàng không China Airline" .

Giọng bắc của cô tiếp viên người Việt duy nhất vừa cất lên. Nhìn qua ô cửa kính, những đám mây đã thưa dần. Thấp thoáng đâu đó chúng tôi đã thấy được mảnh đất quê hương sau ba muoi hai năm xa cách.

Dòng sông và những con đường , thành phố và những mái nhà đã rõ dần, rõ dần ở bên dưới.
Như bầy chim trốn tuyết sau mùa đông dài lạnh lẽo nay trở về tổ ấm phương Nam, tôi đã không khỏi xuc dộng khi biết được chỉ còn vài phút nữa lúc cánh cửa máy bay mở rộng tôi sẽ được thở không khí quê hương, được gặp lại những người thân, được đến "quê nhà xa lắc xa lơ đó"

Nhìn sang bên cạnh, vợ tôi vẫn trầm ngâm bên khung cửa. Tôi không biết nàng đang nghĩ gì trong giây phút này? Tôi lớn lên ở đây, rong choi ở Tự-Do, ở Công Lý, dạo phố ở Lê Lợi, Nguyễn Huệ, đi học ở ngôi trường bên cạnh cầu Trương Minh Giảng. Chúng tôi đã cùng ra đi trên một chiến hạm của Đài Loan vào một ngày cuối tháng Tư và nay lại cùng trở về trên một phi cơ cũng của Đài Loan. Có phải chúng tôi đã có duyên với xứ sở Trung Hoa Dân Quốc?.

Máy bay đã chạm xuống phi đạo, tôi thấy rất it người tò mò nhìn ra bên ngoài , co lè họ đã hồi hương nhiều chuyến hoặc mới vừa ra đi không lâu. Phi trường vẫn còn một số dấu tích cũ, những bãi đậu trực thăng quân sự vần còn đó nhưng đã hoang tàn. Dấu ấn của một thời chinh chiến. Máy bay chưa ngừng hẳn, chưa có lệnh tháo dây an toàn nhưng không ít người đã đứng dậy sắp xếp hành lý để mau chóng rời khỏi nơi này Nàng vẫn ngồi đó, rất lặng lẽ. Quê nàng ở thành phố biển, nàng có mơ được thấy lại hàng dương liễu?, hàng dừa xanh bên bờ cát trắng?, nàng có mơ "Uống nước dừa hay nước mắt quê hương? ‘

"Chúc quý khách một ngày vui".

________________________________________________
Các bạn cùng các anh chị,

Chúng tôi gửi đến các anh chị một vài ý nghĩ rời rạc cùng một số hình ảnh ghi nhận được qua cuộc hành trình Xuyên Việt trong chuyến về thăm quê hương lần đầu sau gần ba mươi hai năm.
Suốt cuộc hành trình, chúng tôi đã vội vã đi, vội vã ăn và cũng vội vã chụp ảnh theo kiểu Mc Donald thức ăn nhanh của Hoa Kỳ.
Vì thì giờ eo hẹp nên chúng tôi dành rất ít thời gian để thăm viếng thân nhân, đến nổi có một người bạn rất thân mà chúng tôi suýt nửa cũng không dược gặp, gần đến ngày về mới có dịp ăn với nhau một bửa cơm và uống một ly café vào buổi sáng rồi lại lên đường.
Chúng tôi chụp trên đường phố, chup từ bên trong máy bay, xe buýt, qua khung cửa Taxi, từ sau lưng của người lái xe ôm, từ quán café ở một vĩa hè, từ bên trong cửa kính một nha hàng mát lạnh. Từ bình minh cho đến hoàng hôn, chụp vào buổi trưa nắng gắt, chụp đêm khuya khi phố vắng người. Chụpp khi mưa phùn ma người Hanội gọi là mưa bẩn, khi sương mù, khi mây bay lãng đãng trước mắt. Chạy và chụp trên khaắp ba miền nước Việt. Tất cả các hình ảnh đều trung thực, không mầu mè, không dàn dựng. Có ảnh mờ, có ảnh rõ, có ảnh thiếu sáng có ảnh thừa sáng vì không có đầy đủ điều kiện thích hợp.
Chúng tôi không có tham vọng chụp ảnh nghệ thuật trong cuộc hành trình vất vả này mà chỉ muốn ghi lại những cảnh thật, người thật, đời sống thật của quê hương. Trên đường phố thị thành hay trong những ngôi chợ ở một tỉnh nhỏ, có người nhìn chúng tôi với cặp mắt diu dàng, có người nhìn chúng tôi với ánh mắt hung dữ khi bất chợt thấy chúng tôi đưa ống kính về phía họ. Có người xua tay, có người đòi tiền, có người làm điệu. Khi chụp người, khi chụp cảnh, khi thì cảnh và người lẫn lộn vào nhau.

Chúng tôi đã tham lam chụp, không đúng với tư cách của một nhiếp ảnh gia "chính quy": chỉ chụp vào sáng sớm khi có ánh sáng đẹp hoặc buổi chiều khi hoàng hôn xuống. Ngoài ra thì trưa nghĩ uống café, tối nghĩ dạo phố uống café, mưa cũng nghĩ vì sợ hỏng máy.
Buổi tối khi trở về khách sạn, tôi lại phải thức để loay hoay burn các ảnh đã chụp vào DVD, tôi đã khổ vì đống DVD này tại phi trường khi trở về Hoa Ky.
Tất cả ảnh chúng tôi chụp đều dưới dạng Raw nên co lẽ phải mất rất nhiều thì giờ để hoàn tất cho hơn hai trăm GB, thành thử co thể thỉnh thoãng vài ba ngày, vài tuần hoặc vài tháng chúng tôi mới có dịp gửi ảnh chia sẽ cùng các anh chị.
Nếu hứng thú , chúng tôi sẽ có thêm vài lời phi lộ hay ‘ thuyết minh’ về bức ảnh, về nơi chốn chúng tôi đã đi qua
Quê Hương, Kỷ Niệm, cả hai đều đẹp Các anh chị và các bạn đã từng chụp, từng xem ảnh của chính mình hay bè bạn, hy vong các bạn sẽ tìm được một chút kỷ niệm, môt chút gì lạ lùng, bí hiểm qua bộ sưu tập ảnh mới nhất của chúng tôi (hết bài 1)(Xin đón xem bài và hinh ảnh khác sắp tới cũng trên trang blog này)


Click để Xem Hinh về chuyên đi Viêt Nam của Hòang Huy Mạnh sau 32 năm

Saturday, March 17, 2007

Đại Hội Băng Đá Tại Trung Hoa năm 2005

Các Nhà Điêu khắc Trung Hoa đã xây dựng những lâu đài chỉ bằng nưỡc đá.và băng tuyết.. Như các bạn thấy trong web site dưới đây..
Xin đưng bỏ sót các trang sau..Mỗi trang là một màu sắc rực rỡ
http://www.rtoddking.com/chinawin2005_hb_if.htm

Thursday, March 1, 2007

Nhà Sư trẻ Tây Tang Gôc Việt (trich Take2tango.com)

Xuân Đinh Hợi, đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ thọ giới Tỳ Kheo cho một vị sư rất trẻ. Trước đó, cũng Ngài đã đích thân làm lễ thọ giới Sa Di và Cụ Túc cho nhà sư. Đây là điều đặc biệt vì nhà sư là người đầu tiên rời Hoa Kỳ qua Ấn Độ xuống tóc trong một tu viện Tây Tạng vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, khi mới 12 tuổi. Đặc biệt hơn nữa, đây là người Việt Nam đầu tiên được truyền thừa trong lịch sử hơn ngàn năm của Phật giáo Tây Tạng.
Sinh tại Quận Cam, ở miền Nam California trong một gia đình khá giả, lên tám tuổi, cậu bé họ Phạm đã muốn trở thành một Geshe Tây Tạng.

Mà Geshe là gì?
Geshe là học vị trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, tương đương với bằng Tiến sĩ về Phật học của Tây phương. Bình thường ra thì phải mất hai chục năm mới xong và nhiều người không xong nổi. Thế giới hiện chỉ có chừng 200 vị Geshe thôi.
Muốn được thành một Geshe thì phải thấm nhuần năm ngành học là Bát nhã ba la mật (Prajnaparamita), Trung quán luận (Madhyamika), Giới luật (Vinaya), A tỳ đạt ma luận (Abidharma) và Lý luận căn bản (Pramana Vidya). Thấm nhuần ở đây là phải nhập tâm, bằng Tạng ngữ, trong vài chục năm tu tập gian nan, hầu có thể ứng đối tranh luận trong mọi tình huống về mọi chủ đề trong các cuộc khảo hạch thường xuyên và từ đó đi hoằng pháp cho nhân thế. Đã vậy, từ thấp lên cao, học vị Geshe còn có bốn cấp là Dorampa, Lingtse, Tsorampa và cao nhất là Lharampa và trung bình thì phải sáu năm mới lên tới cấp tối ưu.
Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, Kyabje Lati Rinpoche, được Đức Đạt Lai Lạt Ma yêu cầu hướng dẫn chú bé gốc Việt họ Phạm

Vị cao tăng Tây Tạng đã hướng dẫn chú bé họ Phạm là một Lharampa Geshe, một hóa thân của danh tăng Gongkar Rinpoche.
Ngài được tôn là châu báu trong hàng Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, pháp danh là Kyabje Lati Rinpoche, hiện là cố vấn về Lý luận (Tsen-shabs) của đức Đạt Lai Lạt Ma. Môn sinh của Tulku Lati Rinpoche thường chỉ là những nhà sư được xác nhận là báo thân của một cao tăng, một vị đạo sư, một guru từ kiếp trước nguyện tái sinh để tiếp tục hạnh nguyện.
Và đức Đạt Lai Lạt Ma là người trực tiếp yêu cầu Tulku Lati Rinpoche dìu dắt chú bé.
Vì sao một chú bé sinh trong một gia đình Việt Nam tại Hoa Kỳ lại được nhận vào tu viện Tây Tạng, rồi được chính đức Đạt Lai Lạt Ma trao phó cho một vị cao tăng hàng đầu của Ngài việc hướng dẫn tu học đó?
Có lẽ phải đi từng bước để nhìn ra con đường học đạo của vị tăng người Việt này.
Với người Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Đại từ Đại bi Bồ tát Quán Thế Âm. Việt Nam ta quen gọi vị Bồ tát ấy là Phật Quan Âm, vì vậy, nhiều người cũng gọi Ngài là Phật Sống Tây Tạng. Người Tây Tạng tôn Ngài là "Kundun" với ý nghĩa ấy.
Trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, một Lạt Ma được coi là hiện thân của Phật, và Bồ tát nguyện tái sinh để cứu độ chúng sinh. Bậc hóa thân ấy được tôn là Tulku ("Chu cô" theo cách phiên âm Hán-Việt). Danh hiệu Lạt Ma chỉ được dành cho những người giảng dạy giáo pháp và có thẩm quyền thực hành nghi lễ của Phật giáo. Trong số những người được chứng nhận là Lạt Ma, những vị uyên thâm và cao quý nhất thì được tôn là Rinpoche (nghĩa là "vô cùng quý báu"). Trong hàng giáo phẩm và triều đình Tây Tạng, người ta thấy nhiều cao tăng được tôn vinh là Rinpoche.
Bây giờ, chúng ta có đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 - một vị Phật Sống - ủy thác cho một Tulku Rinpoche việc dẫn đạo cho một nhà sư trẻ của Việt Nam...

Nhà sư này phải có gì đặc biệt mà có lẽ người thường như chúng ta chưa thấy hết được.
Cách đây bốn năm, nhật báo Orange County Register đã gửi một phái đoàn gồm hai nhà báo Anh Đỗ và Teri Sforza cùng đoàn nhiếp ảnh và truyền hình qua tận Ấn Độ để làm loạt phóng sự bốn kỳ về chú tiểu họ Phạm này. Người ta có thể tham khảo loạt bài được biên tập và trình bày công phu dưới tựa đề "The Boy Monk" tại trang nhà của tờ báo trong bốn số ra ngày 19 đến 22 tháng Giêng 2003.

Từ ngày đó đến nay, việc tu học của nhà sư này đã có sự tăng tiến.
Một người Mỹ xuất gia sang Ấn Độ tu Phật giáo đã là hiếm, nhưng vẫn có. Một người sinh tại Mỹ - thuộc thế hệ thứ nhì vì cha mẹ là người Việt tỵ nạn - thì lại hiếm hơn. Đây lại là người Mỹ đầu tiên được nhận vào tu viện Tây Tạng Gaden Shartse, trong tỉnh Mundgod của tiểu bang Karnataka ở miền Nam Ấn Độ để được tu học thành Sa di. Tên Mỹ-Việt Donald Phạm đổi thành Konchog Osel. Người thân thì gọi là Kusho. Konchog có nghĩa là hiếm quý, Osel là tịnh quang, ánh sáng trong lành, và Kusho là một cao tăng.Đường vào chùa tại Dharasala.
Thế rồi, sau khi khảo hạch thì chính Tulku Lati Rinpoche đã thỉnh đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ thọ giới Cụ túc cho chú tiểu sa môn. Có mặt trong buổi lễ cử hành vào đúng ngày Phật Đản còn có bốn vị Rinpoche khác. Chú được ban pháp danh là Tenzin Drodon, nghĩa là "Người nắm giữ Phật pháp" (Tenzin) "cứu độ chúng sinh" (Drodon). Drodon là một pháp danh ít có trong hệ thống Tăng già Tây Tạng.
Ngày nay, Phật giáo Tây Tạng có một nhà sư dung mạo sáng rỡ, nói sành sõi tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Tây Tạng với phương ngữ quý phái của Kinh đô Lhasa, ở bên kia đỉnh núi tuyết ngàn trùng. Vào mùa Xuân Đinh Hợi 2007, ở tuổi 21, Kusho sẽ thọ giới Tỳ kheo với đức Đạt Lai Lạt Ma, một điều kỳ lạ nữa. Trong lịch sử Tây Tạng, đây là người Việt đầu tiên được chính đức Đạt Lai Lạt Ma truyền thừa và truyền giới.

Có thể là sau này người ta mới được biết thêm rằng nhà sư trẻ cũng là hóa thân của một hành giả, nguyện tái sinh trong một gia đình Việt Nam tại Mỹ và tu học trong tu viện Tây Tạng tại Ấn vì lợi ích của chúng sinh. Ba vị cao tăng đã lần lượt hướng dẫn nhà sư là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen tại tu viện ở Long Beach, là Lharampa Geshe Lati Rinpoche, một vụ Tulku tại tu viện Gaden Shartse ở Ấn Độ và đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14.

Bây giờ, chúng ta mới tìm hiểu về nhân vật này.
Vừa ra đời, Donald Phạm đã chững chạc như người lớn. Chú bé là học sinh ưu tú, thích âm nhạc, viết văn, trượt nước và chơi Nitendo! Là học trò giỏi tại trường Aliso Viejo Middle School, chú bé đủ thứ game trong nhà và thừa điều kiện thành công trong một môi trường đầy cơ hội là Hoa Kỳ. Ước nguyện ban đầu của chú là thành nhà văn hay bác sĩ. Nhưng, khác mọi đứa trẻ cùng tuổi, chú ít nói, kín đáo nhìn mọi sự chung quanh và đặc biệt quan tâm đến người khác.

Cha mẹ chú là những người khá giả và chăm sóc kỹ lưỡng tâm hồn các con. Mẹ chú sùng đạo từ khi còn ở Việt Nam. Tại Hoa Kỳ thì cả gia đình thường đến ngôi chùa Tây Tạng ở Long Beach, do đức Đạt Lai Lạt Ma đặt tên là Thubten Dhargye Ling, để tu học Phật pháp. Đây là một việc không dễ vì từ nhà đến chùa là 90 cây số và một tuần, gia đình lên chùa ba lần.

Donald vào chùa là có phản ứng khác lạ. Tưởng đứa con lơ đãng nhìn quanh, bà mẹ ngạc nhiên vì chú nghe được hết và nói lại rành mạch những khái niệm rất lạ. Thí dụ như hiện tượng "tâm viên ý mã" trong lúc thiền định! Người lớn nghe đã thấy khó lãnh hội, huống hồ một đứa trẻ ở tuổi mẫu giáo!
Năm chú lên bốn, bà mẹ đọc báo thấy có tin là vị Đạo sư Lati Rinpoche sẽ đến thuyết pháp ở Los Angeles. Quá mừng khi được cơ hội gặp vị cao tăng mà mình đã đọc lời giảng trong sách từ khi còn mang thai chú bé, bà dẫn chú đi nghe và năm đó Donald đã quy y với Tulku Lati Rinpoche!
Khi chú lên năm, cô em kém chú hơn một tuổi bỗng khóc òa vì làm vỡ cái đĩa. Chú bé đứng cao hơn quầy bếp đã lên giọng trấn an: "Đừng lo, đó chỉ là đồ vật thôi. Nếu chấp vào vật nhỏ như vậy thì khi chết, làm sao cái tâm bỏ được cái thân này?"
Rồi sau đó, thay vì là nhà văn hay bác sĩ, năm lên tám, chú muốn thành một Geshe!

Thấy con mình có ý đi tu để thành Geshe, bà mẹ trình bày với vị Hoà thượng trụ trì tu viện Phật giáo Tây Tạng tại Long Beach là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen, thường được Phật tử quý mến gọi là Geshe La.

Hoà thượng Geshe La khuyên là hãy kiên nhẫn tìm hiểu tâm tư chú bé đã. Cho con vào chùa là chuyện thường tình ở Á châu và Tây Tạng, nhưng chúng ta đang ở tại Hoa Kỳ, trong một khu vực trù phú lịch sự. Con đường tới chùa là một chặng đường khá xa cần phải tìm hiểu. Mà cách tìm hiểu hay nhất là chính họ phải qua tận Ấn Độ thăm viếng một ngôi chùa Tây Tạng đủ lâu để thấy hết tận mắt. Thày dạy, tu viện là một đại dương, có rất nhiều ngọc nga châu báu vật đấy nhưng cũng có cá mập.
Hãy tìm hiểu rồi mới quyết định cho chú bé.

Khi Donald Phạm lên chín, năm 1995, cha mẹ chú quyết định sang thăm tu viện, cách đó đúng là vạn dậm. Bước đầu là từ California bay qua Ấn Độ, rồi đi xe buýt leo đèo băng suối tới một tu viện trong khu định cư của người Tây Tạng tại Mundgod, thuộc tiểu bang Karnatala ở miền Nam Ấn Độ. Đó là tu viện Gaden Sharte của dòng Gelugpa Phật giáo Tây Tạng.
Khu vực định cư cho dân tỵ nạn thường không là một vùng đất trù phú thịnh vượng. Sự nghèo khổ và thiếu thốn là quy luật chung. Huống hồ là nơi tu hành. Người viện trưởng của Tu viện chính là ngài Tulku Lati Rinpoche mà gia đình họ Phạm đã đọc rồi đã gặp tại Los Angeles.

Phép sinh hoạt nơi đây là sự khắc khổ nghiêm ngặt. Mọi người thức giấc từ năm giờ sáng, chư tăng áo đỏ tụng kinh đến bảy giờ rồi ăn sáng. Thực đơn khác hẳn bữa điểm tâm trong một ngôi nhà khang trang ở Laguna Niguel tại California. Bánh mì chấm trà có pha đường, bơ tẩm muối. Sau đó là học ngôn ngữ và tranh luận đến trưa. Quá ngọ là buổi học với các đạo sư cho đến chiều. Cơm tối là cháo. Xong cơm là học tiếp về Phật pháp qua tranh luận, có khi đến nửa đêm...
Giáo trình đào tạo còn nặng hơn mọi trường tư thục ưu tú nhất của Mỹ! Và không có các màn giải trí qua truyền hình, chơi game, nghe nhạc từ DVD... Cũng không có quà vặt, máy giặt máy xấy, nước nóng phòng riêng...
Làm sao cho con mình vào sống nơi đó?

Gia đình ở lại sáu tuần và chú Donald Phạm cho biết là muốn học đạo ở nơi đây.
Trường hợp của chú hiển nhiên đã được Geshe La và Tulku Rinpoche chú ý. Phải tìm lời giải trong phép khảo chứng bí truyền của Tây Tạng. Vị cao tăng thực hiện buổi lễ linh thiêng ấy chính là Tuku Rinpoche. Lời giải là chú bé này là một đứa trẻ đặc biệt, sẽ vào chùa thành một vị sư Tây Tạng. Donald Phạm cũng cảm thấy như vậy.
Việc cháu Donald muốn đi tu đã gây nhiều phản ứng và tranh luận trong đại gia đình. Đầu tiên thì chị và em không muốn xa Donald. Còn ông ngoại thì hoàn toàn không vui! Điều ấy cũng thật dễ hiểu. Nhưng ý của chú đã quyết và cha mẹ cũng thông cảm và hỗ trợ nên mọi người quen dần với quyết định này.
Gần bốn năm trôi qua, rồi vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, cả gia đình Donald Phạm đã theo Hoà thượng Geshe La qua Ấn Độ. Chú sẽ ở lại nơi đây. Tết Nguyên đán Kỷ Mão thì xuống tóc, trở thành Sa di Kusho Konchog Osel. Tu viện có 1.500 người cùng học nhưng chú được chính đức Đạt Lai Lạt Ma ân cần phó thác cho vị Viện trưởng Tulku Lati Rinpoche trực tiếp hướng dẫn. Mọi người ân cần gọi chú là Kusho-la.

Hai năm sau, Kusho được đưa lên Dharamsala, miền cực Bắc Ấn Độ, vào học viện Lý luận Phật giáo, Institute of Buddhist Dialectics. Có 300 sinh viên, học viện này nằm gần thị trấn McLeod Ganj của Ấn. Thị trấn được gọi là "Little Lhasa", trụ sở của Chính quyền Lưu vong Tây Tạng, và học viện IBD là nơi đức Đạt Lai Lạt Ma thường giảng pháp.
Trong học viện, tiểu Sa di Kusho là người trẻ nhất và được chú ý vì khả năng lãnh hội lẫn tranh luận. Chú còn được khen là từ tốn khiêm nhường và thường trầm lặng trước mối quan tâm của truyền thông báo chí. Nhiều người đã luận rằng Kusho có thiện nghiệp để trở thành sư, và có phúc duyên được hướng dẫn bởi những vị cao tăng để theo đuổi Phật học đến chỗ thâm sâu.

Ngày nay, Kusho đã thành một vị sư 21 tuổi, và Xuân này sẽ thọ giới Tỳ kheo với chính đức Đạt Lai Lạt Ma, thành Shakya Bikshu Tenzin Drodon.
Trong khi ấy, gia đình ở nhà cũng thay đổi.
Càng luống tuổi, ông ngoại của Kusho càng thấy ra hai lẽ. Phần mình, thì đời người quả là hữu hạn. Phần cháu ngoại Donald, thì việc cháu trở thành sư là một điều lành.
Đầu năm 2007, ông cụ lâm trọng bệnh và từ Ấn Độ, Kusho trở về thăm ông, có thể là lần cuối. Hai ông cháu gặp nhau trong một cảnh ngộ cảm động.
Được hỏi về chuyến thăm viếng, nhà sư trẻ giải thích là vì muốn cầu nguyện cho tâm của ông ngoại được thảnh thơi, vững mạnh, và buông xả hết mọi ưu phiền.
Kusho không tin là mình có "thần lực" hay khả năng hộ niệm để ông "siêu sinh tịnh độ" như ta thường nói. Cháu chỉ muốn gặp ông, hàn huyên để ông vui với tuổi già, có cái nhìn lạc quan tích cực về mọi chuyện. Riêng mình, thì đứa cháu rất cảm động nghe ông nói, rằng mình mừng cho cháu đã đi tìm hạnh phúc trong sự tu tập, vì hạnh phúc thật là khi mưu cầu cho hạnh phúc của người khác. Hai ông cháu đã hoàn toàn cảm thông và cùng nhìn vào một hướng.

Nói đến chuyện "thần lực" hay "hóa thân", đề tài kỳ diệu khi ta nghĩ đến Phật giáo Tây Tạng, Kusho cười hiền hoà và giải thích bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh: Không, chú không là hoá thân hay đang tu tập để có thần lực thi hành được những việc siêu nhiên. Việc tu tập để tìm thần lực hay khả năng siêu nhiên là điều sai.
Nhưng, khi tu tập, Kusho thấy hay nghĩ "mình là ai?" Là một chú bé Việt Nam, một thiếu niên Mỹ hay một Sa di Tây Tạng - Là tất cả!

Ban đầu, khi ở trong Tu viện Gaden thì còn mơ hồ vì có lúc thấy mình là một thiếu niên Mỹ, một đứa trẻ Việt Nam, và nhất là khác lạ với chúng bạn người Tây Tạng chung quanh. Thế rồi một cách tiệm tiến và nhẹ nhàng tự nhiên, chú thấy mình tách rời với tất cả những "hành trang" ấy của quá khứ mà cảm nhận ra một sự thể gì bao nhiếp tất cả. Một sự an nhiên kỳ lạ khiến mình thấy thư thái và tự do hơn.

Cảm giác gọi là "giải thoát" ấy xuất phát từ sự tu tập hay từ ý chí của mình? - Có lẽ, phép tu tập giúp cho ý chí ấy thành vững mạnh hơn và quan trọng nhất, giúp cho mình thấy được cách suy nghĩ tích cực và nuôi dưỡng nghị lực tích cực.
Kusho suy nghĩ rồi nói bằng tiếng Anh: "Positive Energy"

Nhưng, trong tu viện Gaden hay trong học viện ở Dharamsala, Sa môn Kusho có biết hay được biết gì về thế giới bên ngoài không, về "đời sống thật" không?
Ban đầu, trong tu viện thì chỉ học về kinh điển và phép luận giải, chứ qua học viện tại Dharamsala thì các học viên đều có thể xem truyền hình và đọc báo để biết về những gì đang xảy ra trên thế giới. Chính đức Đạt Lai Lạt Ma đã muốn các học viên chứng đắc Phật pháp bằng cách hiểu được cộng đồng và thế giới. Ngoài ra, giáo trình của học viện chẳng khác gì nhiều nếu so với một Đại học tân tiến, học viên được giáo dục để biết về thế giới cũng như Phật pháp.
Sau khi hoàn tất khóa học rất dài tại Dharamsala, Kusho sẽ trở lại tu viện Gaden và lúc ấy mới lại sống như một vị tăng trong chùa.
Nhưng, khi biết rằng thế giới này "khổ" - vì nạn đói ở Phi châu hay khủng bố tại Trung Đông chẳng hạn - học viên nghĩ sao? Và muốn làm gì để giải trừ cái khổ ấy?

Nhà sư trẻ suy nghĩ giây lát mới giải thích. Trước hết, những tin tức ấy có giá trị "khích lệ", là yếu tố càng thúc đẩy học viên phải tu tập để góp phần giải trừ cái khổ.
Nhưng, nhìn từ các tu viện, cái khổ ấy có là một ý niệm trừu tượng xa vời của "chúng sinh" hay của người khác không? Thí dụ như một bác sĩ vẫn có thể chữa chạy cho bệnh nhân sau khi học về những triệu chứng hay hậu quả của bệnh. Một nhà xã hội cũng có thể học về khủng hoảng để góp phần giải quyết dù mình chẳng là nạn nhân... Liệu cảm nhận về cái khổ này có là một khái niệm tách bạch xa vời vì không trực tiếp liên hệ đến mình ở trong chùa hay trong học viện?
Kusho tìm chữ diễn tả, cả Việt lẫn Anh, rằng sự hiểu biết về cái khổ ấy tác động rất mạnh vào tâm trí, nhưng theo hướng khác. Ý thức về những vấn đề ấy khiến mình càng thêm tin tưởng vào Phật pháp và càng thôi thúc mình làm một cái gì đó để cứu giúp người khác. Đây cũng là bước cần thiết để chứng nghiệm đức tin của mình.

Nếu tu học để thành sư mà không nghĩ đến việc giúp đỡ người khác thì là một sự lãng phí! Phật giáo Tây Tạng rất chú ý đến việc tu dưỡng Bồ đề tâm, đến Bồ tát hạnh và coi việc giúp đỡ người khác là một bổn phận trọng yếu, một phần không thể tách rời trong đức từ bi của người Phật tử.
Nói đến người khác, Kusho có nghĩ đến người Việt và Phật giáo Việt Nam không?

Vị Sa môn trẻ này cám ơn mẹ cha là những Phật tử đã khuyến khích và giúp đỡ mình trên con đường học đạo. Chính là tấm lòng yêu thương của bà mẹ đã khiến chú cố gắng tu tập để có thể làm tròn bổn phận với Việt Nam.
Vì vậy, sau giai đoạn tu chứng, nhà sư trẻ còn phải đi một bước rất xa là học hỏi thêm về Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.

Phật giáo Tây Tạng theo Kim cang thừa (Varayana) của Đại thừa Mahayana, nhưng cũng áp dụng phép tu có đặc tính Mật tông và cả Bồ tát hạnh trong những giáo lý nền tảng của Phật giáo Nguyên thủy Theravada. Vì vậy, trong giáo trình đào tạo và tu học, các học viên đều phải thấm nhuần những lý giải Tiểu thừa hay Nguyên thủy. Sau này, Kusho sẽ học thêm về những đặc tính đa diện của Phật giáo Việt Nam và phải thông thạo tiếng Việt để tiếp xúc với Phật tử người Việt.
Một con đường rất dài... Khi viết, Kusho sử dụng cả hai tay, trái và phải, để viết chữ Tây Tạng hay tiếng Anh. Khi học, có lẽ cũng phải nhớ đến tương lai là tìm đến Phật giáo Việt Nam. Vả lại, chính đức Đạt Lai Lạt Ma đã căn giặn như vậy.
Hôm đó, sau khi được Ngài truyền giới, vị tiểu sa môn được đức Đạt Lai Lạt Ma gọi riêng ra chụp chung tấm hình. "Con giữ tấm hình này cho quê hương con. Cho nước Việt Nam". Kusho treo tấm hình trong trai phòng tại học viện, như một nhắc nhở hàng ngày.

Việc nhà sư Tenzin Drodon này sẽ chứng đắc học vị Geshe có thể chỉ là thời gian vì tâm nguyện như vậy. Nhưng, việc một người có tâm hồn và giáo dục Việt Nam được tu học thành nhà sư Tây Tạng mới là một hạnh ngộ hiếm hoi.
Lời khuyên của Tulku Lati Rinpoche là Kusho hãy cố gắng tinh tấn tu học để trở thành một sa môn đầy đủ Bồ tát hạnh là Bi, Trí, Dũng để hoằng pháp lợi sanh cho nhân thế. Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rõ hơn trong từng buổi gặp gỡ: "Đừng quên Việt Nam. Lòng từ bi và trí tuệ của con sẽ giúp ích rất nhiều cho quê hương con."
Pháp danh Drodon quý hiếm này, có lẽ Ngài chọn cho Kusho để hướng tới trách nhiệm với Việt Nam.
Sông Mekong xuất phát từ vùng đất Kham đã tái sinh của hai vị cao tăng Tây Tạng là Gehse La và Tulku Rinpoche. Nơi con sông này đổ ra biển chính là Việt Nam.
Phải chăng, đức Đạt Lai Lạt Ma đã thấy vạn sự từ đầu nguồn tiền kiếp, mà chưa đến lúc nói ra?

TÂM THÀNH